Đến từ trái tim

Cho anh, cho em và cho tất cả

chingulukhach

chingulukhach

Danh hiệu Blogger

Bài viết 118

Được dõi theo 14

LỜI NÓI ĐẦU ( Thiền Môn Nhật Tụng)

30/10/2011| 1032 Xem| 0 Bình luận| 0 Thích

Mục đích tụng niệm là chuyển hóa những cảm xúc tiêu cực của hành giả, làm cho tâm họ trở nên thuần tịnh hơn ngay khi tiếp xúc với ngoại cảnh xao động trong đời sống hàng ngày. Nếu như mọi lý luận tôn giáo nhằm hóa giải tư tưởng hồ nghi của tín chúng về những nỗi khổ, niềm đau đang diễn ra xung quanh họ, thì nghi thức cầu nguyện chính là phương thức chuyển hóa vô lượng nỗi khổ, niềm đau đó. Vì vậy, các tôn giáo từ xưa đến nay không ngừng cố gắng hoàn thiện về mặt cơ sở lý luận mà còn nỗ lực hoàn tất nghi lễ riêng của mình. Tuy nhiên, hầu hết các tôn giáo đều bị bế tắc khi quá đề cao vai trò của Thượng đế hay một đấng thần linh tối cao nào khác. Vì tự thân các tôn giáo ấy không thể giải thích thỏa đáng mọi ngờ vực của tín chúng khi lấy Thượng đế làm tấm bình phong che tai, bịt mắt thiên hạ mà không thấu triệt được lý nhân quả, nghiệp báo. Vô tình họ biến những lời cầu nguyện thiết tha đến Thượng đế thành những tiếng kêu gào trong vô vọng. Vì cầu nguyện đâu chỉ là lời nói suông mà cần phải cầu nguyện bằng cả trái tim, khối óc và bàn tay của mỗi người. Như thế, mới không là lời nguyện suông vô ích, tránh thái độ tiêu cực ỷ lại và giúp cho tự thân mỗi người thức tỉnh với vai trò làm chủ lấy vận mệnh của chính mình. Cho nên, nếu lầm nhận mọi hình thức nghi lễ của đạo Phật cũng như các tôn giáo khác là vô lý và thiển cận. Bởi đứng về mặt chân lý, Phật giáo không phải là một tôn giáo dù có đủ các yếu tố hình thành nên một tôn giáo. Tụng niệm theo đạo Phật không phải là nhắc lại những điều răn như các tôn giáo khác mà hoàn toàn dựa trên tinh thần tự giác của hành giả, nhằm sống lại tâm Phật bản nhiên nơi mình. Cho nên tụng niệm cũng là một phương thức chuyển hóa tối ưu trong vô lượng pháp môn thù thắng mà đức Phật chỉ dạy.

Tuy nhiên, để hóa độ nhiều loại căn cơ khác nhau, nên chư vị tổ sư Phật giáo cũng y theo kim ngôn của Phật dạy, tùy theo sở tu của mình mà hiển giáo, lập tông. Cho nên, dù trong đạo Phật được chia làm nhiều tông phái khác nhau, nhưng chư tổ đều soạn ra nghi thức tụng niệm riêng sao cho phù hợp với môn phong từng biệt phái. Điều này thể hiện tính đa dạng, tùy duyên và thuần nhất trong đạo Phật trên cả ba mặt: Trí tuệ, từ bi và phương tiện.

Điều đó giải thích tại sao đến nay, riêng Phật giáo ở nước ta vẫn chưa có một nghi lễ thống nhất. Dù vậy, nghi thức tụng niệm hàng ngày thông dụng nhất trong chốn thiền môn hiện nay vẫn là kinh Nhật Tụng. Tuy có sự dung hợp giữa Thiền- Tịnh- Mật nhưng hầu hết các nghi thức này được soạn ra hầu như để hướng dẫn người tu Tịnh độ hơn là  đáp ứng mọi nhu cầu tu tập của các hành giả các tông phái khác. Bên cạnh đó trì tụng theo nghi thức này làm cho hành giả người Việt hiện nay bị trở ngại về ngôn ngữ nên khó mong lãnh hội lời Phật dạy vì toàn văn kinh Nhật Tụng còn giữ nguyên âm Hán - Việt. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho Phật giáo ngày càng trở nên khó thuyết phục được quần chúng, nhất là đối với giới trẻ hiện nay. Hơn nữa, tâm lý chung của tuổi trẻ là ưa thích những gì ngắn gọn dễ hiểu, đầy đủ ý nghĩa, tránh mất nhiều thời gian nên việc tụng kinh bộ hầu như chỉ thích hợp với các đạo tràng chuyên tu hơn là phục vụ cho công cuộc lợi sanh nhằm đem Phật giáo quảng bá quần chúng. Vì các kinh bộ quá dài, nếu hành trì phải mất nhiều thời gian, do đó dễ khiến cho người tụng mau nản lòng bởi không phù hợp với thói quen lười mỏi của phần lớn chúng sanh trong thời mạt pháp. Hơn nữa, trong truyền thống Phật giáo đại thừa đến nay, có rất ít bản kinh liên quan đến sự ứng dụng vào đời sống hàng ngày rải rác trong kinh A hàm, cũng như các kinh khác được đưa vào tụng niệm. Hiện trạng này làm hành giả lâu dần lãng quên đời sống thực tại, bám víu vào ảo tưởng giải thoát qua hý luận, trong khi chưa lãnh ngộ tâm yếu. Nhìn chung, nếu không giải quyết thỏa đáng các vấn nạn trên, Phật giáo khó mong hóa độ những người sơ cơ thấp kém trong khi càng về sau thời mạt pháp, căn tánh chúng sanh càng thêm chậm lụt.

Để có một nghi thức tụng niệm phù hợp, theo thiển ý chúng tôi cần phải hội đủ các điều kiện sau:

  1. Nội dung mang tính phổ cập quần chúng, phù hợp căn cơ người tụng[1] (Khế cơ).
  2. Khéo thích thời (Khế thời).
  3. Đúng tôn chỉ tu hành của một tông phong (Khế lý).
  4. Văn kinh phải dịch đúng ngôn ngữ bản xứ[2](Khế xứ).

Tất nhiên, để hội đủ bốn yếu tố trên chẳng phải là việc làm đơn giản. Do đó các tông phong không thể một sớm, một chiều mà hoàn bị được. Dù hiện nay đang có nhu cầu thống nhất nghi thức tụng niệm trong toàn quốc. Nhưng theo thiển ý chúng tôi, đây là điều bất khả.

Vì sao? Vì sự đa dạng của các tông phái Phật giáo đã nói lên đặc tính “Tùy duyên nhi bất biến” trong đạo Phật. Cho nên, các tông phái không thể thống nhất với nhau về kinh tụng mà chỉ quy nhất với nhau về bản thể giác ngộ. Vì mỗi khoa nghi đều là tấm gương phản ảnh tư tưởng cốt lõi của từng pháp môn tu tập trong khi mỗi tông phái đều có đường lối tu tập riêng, nên nghi thức tụng niệm của các tông phái Phật giáo nhìn chung không thể thống nhất.

Nhận thấy, pháp môn tu niệm “Bồ tát Quán thế âm” theo kinh Phổ Môn phù hợp với căn cơ chúng sanh trong thời mạt pháp, cũng như thỏa mãn 4 điều kiện hình thành một nghi thức tụng niệm thiết thực nên chúng tôi mạo muội biên soạn ra quyển Thiền Môn Nhật Tụng để đáp ứng nhu cầu tu học tín chúng dòng truyền thừa Quán thế âm, cũng như giới thiệu đường lối tu tập dòng pháp Quán thế âm cho mọi người được rõ. Vì tông chỉ của dòng pháp là hoàn toàn y chỉ vào bi nguyện của đức Bồ tát Quán thế âm nên viên dung cả Thiền, Tịnh, Mật. Nhờ vậy, pháp này hội đủ cả ba phương diện trí tuệ, từ bi và phương tiện. Cho nên, người tu theo Bồ tát Quán thế âm phải lấy Bát nhã làm trí tuệ; lấy tinh thần ứng dụng 33 hóa thân của Bồ tát mở rộng lòng từ bi và nương vào sức gia trì bí mật của ngài theo kinh chú Đại bi và kinh Ngũ Bách Danh làm phương tiện độ sanh. Do pháp môn của đức Bồ tát Quán thế âm vốn dĩ siêu việt Thiền, Tịnh, Mật chỉ thuần nhất một cứu cánh bất nhị là Quán Tự Tại, nên trong quyển Thiền Môn Nhật Tụng này gồm thâu cả Thiền, Tịnh, Mật nhằm trợ duyên cho các hành giả tu theo dòng truyền thừa giữ vững tâm Bồ đề, sớm tỏ lối về quê.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng soạn ra ý nghĩa hành trì theo dòng truyền thừa Quán thế âm nhằm giúp hành giả biện biệt  được những điều cần thiết ngay khi bắt đầu ứng dụng tu tập để tránh trường hợp tu mù, luyện quán gây ra thiệt thòi cho bản thân mình và tự đánh mất niềm tin đối với chánh pháp. Do đây là quyển nghi thức tụng niệm được soạn trên đường chúng tôi đi hoằng pháp từ Bắc vô Nam, vì không đủ phương tiện để hiệu chỉnh, nên khó tránh khỏi nhiều sai sót. Mọi lầm lỗi trong việc hiệu bổ, dịch thuật, biên soạn, trước tác cũng như in ấn đều là do chúng tôi phước mỏng, nghiệp dày. Cho nên, chúng tôi thiết tha cúi xin các bậc cao minh niệm tình phủ chính và chứng minh cho người viết được sám hối. Kính nguyện đem chút phước duyên này hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh nghiệp chướng tiêu trừ, viên thành chánh giác. 

 

     Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát

Phổ môn thiền thất, mùa thu 2011

 

 

 



[1] Ngắn gọn, dễ hiểu, sâu sắc, dễ tiếp xúc, có tính ứng dụng thực tế, không gây nhàm chán.

[2] Trong quyển nghi thức này, chúng tôi soạn dịch chú ngữ theo âm Phạn – Việt, tuy nhiên sau mỗi nghi thức chúng tôi vẫn tôn trọng phiên âm Hán- Việt vì:

-         Đây là thời khóa chính của chư Tăng.  Quá trình Việt hóa nghi lễ, không thể đồng nhất với nạn mù Hán học. Như thế sẽ làm cho Phật pháp ngày thêm mai một.

-         Việc tụng chú theo âm Hán- Việt vốn đã thành truyền thống lâu đời trong Phật giáo Việt Nam. Cho nên, nếu đổi lại Phiên âm Phạn- Việt sẽ gây thiệt thòi số đông quần chúng, như thế sẽ làm cản trở sự nhiếp tâm của họ và tổn lòng từ bi của người soạn.

-         Công năng của sự tụng đọc quan trọng là ở chỗ nhất tâm, vì ở Việt Nam khi trì chú thường dung lối thiền tụng hơn là quán tưởng của Mật tông.

 

Cùng chuyên mục

Bình luận (0)

Bạn phải đăng nhập để viết bình luận cho bài viết này
back to top