Mạng xã hội Tamtay.vn

Niềm vui trong tầm tay

luuchuong_gl1957

luuchuong_gl1957

Danh hiệu Blogger

Bài viết 1030

Được dõi theo 9

Bạch Vân Gia Huấn (23 bài thơ)

13/12/2012| 4360 Xem| 0 Bình luận| 0 Thích

Bạch Vân Gia Huấn (23 bài thơ)


Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài thứ nhất – HIẾU HẠNH

Đức hiếu hạnh là chương thứ nhất

Hãy suy xem sự thật ra sao

Trăm hay lấy hiếu làm đầu,

Vạn điều ác cũng khơi mào từ dâm(1)

Dành sách cho con cháu là quý

Nhưng dễ đâu họ đã đọc cho.

Dành vàng cho họ đầy kho,

Chắc đâu họ đã giữ cho lâu bền.

Chi bằng tích đức liền liền,

Mới là cái kế lâu bền về sau

Hoạ hay phúc biết đâu là cửa

Do con người định cả đấy thôi.

Ngẫm xem quy luật đất trời,

Trồng đậu được đậu, dưa thời được dưa

Lưới trời rộng thưa, mà không lọt,

Không bao giờ bỏ sót chính tà.

Biết xấu thời tránh cho xa,

Biết lỗi sửa lỗi ấy là điều hay.

 

Trước khoan nhượng, sau dày quả phúc,

Trước mở mang, sau được phúc lành

Chớ chơi với kẻ bất minh

Của phi nghĩa chớ chiếm thành của ta.

Lòng chớ nghĩ gian tà, hiểm độc,

Chân đi không bước bậy, giẫm càn.

Nghe lời nói thẳng rõ ràng,

Thấy nơi chình nghĩa đường hoàng thì theo.

 

Người siêng năng thêm nhiều tuổi thọ,

Kẻ chơi bời đa số chết non.

Sự đời chậm chắc thì hơn,

Tình người thoang thoảng thì hơn quá nồng.

Sự sang giầu nếu không đáng hưởng,

Cố hưởng, rồi cũng chẳng ra sao.

Chưa già đã hưởng lộc cao,

Hẳn rằng sau cũng mau mau hết đời.

 

Kẻ mưu mô hại người người hại

Nuôi hận thù thì mãi không thôi

Người quân tử chẳng hoài hơi,

Chẳng cần lý sự tránh lời hơn thua.

Có bệnh, biết phòng ngừa bệnh tật,

Thì con người chắc hẳn sống lâu.

Có việc, biết bảo ban nhau,

Cửa nhà yên ấm, bền lâu tình người.

 

Lấy vợ đâu kén đẹp người.

Được người hiền đức thì đời mới vui.

Mối quan hệ với người thân quyến,

Dù xa gần năng đến thăm nhau,

Quan chức chẳng cứ thấp cao,

Thanh liêm, cần mẫn, dân nào chẳng yêu.

 

Tình bạn bè giúp nhau mới đẹp,

Chớ có vì nhau nhẹt thân chơi.

Ngọc là vật quý ở đời

Cháu con hiếu thảo sáng ngời là phong.

 

Bài thứ hai - CHỨC PHẬN LÀM CON

 

Phận làm con phải thông đạo hiếu,

Phận làm dân phải hiểu chữ trung.

Trên ra lệnh, dưới phục tùng,

Cha làm việc tốt, con cùng làm theo.

 

Của cải nhiều dùng lâu cũng hết,

Chữ hiếu trung hưởng mãi vô cùng.

Bàn mưu tư lợi thì đừng,

Bàn điều chân chính, nên cùng tham gia.

 

Làm tốt chớ ba hoa kể lể,

Hoa sớm nở, thì hoa dễ sớm tàn.

Cẩn thận đáng giá ngàn vàng,

Phải suy nghĩ kỹ hãy làm mới hay.

Người tốt hay xắn tay làm phúc,

Giúp ai không lợi dụng người ta.

Người biết lỗi, sửa thì tha,

Trị người có tội, chớ mà quá nghiêm.

 

Dạy điều thiện, đừng nên tham quá,

Để người học có khả năng theo

Khoan hòa sẽ được tin yêu,

Siêng năng cần mẫn ắt nhiều thành công.

Nói thận trọng thì không sợ lỗi,

Làm thận trọng đỡ hối về sau.

Thế lực dù mạnh đến đâu,

Nếu đem dùng hết, ắt sau hại mình.

Hoặc cậy thế tạo thành phúc lộc,

Hẳn rằng sau cũng chẳng ra gì.

Cứ đường chính đạo mà đi,

Hiếu, Trung, Nhân, Nghĩa nghĩ suy mà làm.

 

Bài thứ ba – NÓI VỀ GIÀU SANG

 

Bài thứ ba bàn sự giàu sang

Giàu với sang ai chả ước mong,

Nhưng giàu sang chẳng chính công,

Là phi đạo đức, hẳn không lâu bền.

Ai sống kẻ nghèo hèn cũng chán,

Nhưng bất lương đuổi hẳn chẳng đi.

 

No cơm hẩm thiết gì thịt cá,

Vui cảnh nghèo, quên cả giàu sang.

Người quyền quý, lắm bạc vàng,

Lấy gương xử với họ hàng mà soi.

Ở phải đạo, nhiều người giúp đỡ,

Sống bất lương, ít chỗ thân tình.

Thà nghèo giữ được thơm danh,

Hơn giàu lắm chuyện phẩm bình, cười chê.

Bọ ngựa rình con ve định bắt,

Chim sẻ rình bọ sát phía sau…

 

Tiếng tăm lừng lẫy càng nhiều,

Tránh xa kẻ xấu sinh điều ghét ghen.

Nhiều tài cũng lắm phen khốn khổ,

Nhiều công là cái hố suy bì.

Nhớ rằng đừng cậy, chẳng khoe, (1)

Phải luôn thận trọng chớ hề phô trương.

Nói với bạn việc ngay ý thẳng,

Phải người tham họ chẳng nghe đâu.

Nói với quan chuyện thanh cao,

Phải quan tham nhũng hẳn sau nó trù.

(1): Truyện kiều có câu:

“Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần”

 

Bài thứ tư – ĐẠI NGHĨA

 

Bài thứ tư nêu câu Đại nghĩa

Dạy cho người ta biết để khuyên nhau.

Trung với nước đặt lên hàng đầu,

Đạo cha con được xếp vào đại luân.

Trai tài biết thương dân, thủ tiết,

Gái kiên trinh phải biết giữ mình.

Người tài nước được thơm danh,

Vợ giỏi như được ngọc lành trời cho.

Gái bất chính thì cho chẳng lấy,

Trai có tài mắc bẫy thì ngu.

Bất trung dễ mắc mưc thù,

Minh quân như mù mới lấy làm quan.

Con dân thường chăm ngoan học giỏi,

Cũng có ngày tiến tới làm quan,

Con quan chẳng chịu học hành,

Suốt đời cũng chỉ làm anh dân thường.

Làm quan chức, thấm ơn chế độ,

Có nuôi con, mới nhớ được công cha.

Muốn lòng ngay thẳng thật thà,

Rèn luyện ý trí phải là đầu tiên.

 

Bài thứ năm –CHÍ THIỆN

 

Bài thứ năm : Tâm linh chí thiện

Mong tốt lành mọi chuyện công tư.

Rất vui là đọc thi thư,

Việc đời mệt nhất ấy là dậy con.

Cha nghiêm phụ răn con hiếu thảo,

Mẹ nhân từ dạy bảo gái ngoan.

Nhà lành hương toả chi lan,

Ở lâu chẳng thấy mùi thơm ngạt ngào.

Gần kẻ ác như vào chợ cá,

Buộc người ta quen cả mùi tanh.

 

Có nết tốt chẳng kiêu căng,

Đức dày thêm mãi tạo thành thói quen.

Giàu chớ kiêu chớ nên ích kỷ,

Sang cũng đừng xa sỉ, hợm đời.

Việc làm muốn tốt tuyệt vời,

Ba lần căn nhắc hẳn hoi mới làm.

Suy tính kỹ bao hàm hai ý:

Việc chung riêng thấu lý đạt tình.

 

Từ xưa vẫn sợ, vẫn kinh,

Lòng người nham hiểm nảy sinh khó lường

Kẻ tiểu nhân mưu đồ xảo quyệt,

Thích mưu đồ tiêu diệt người ngay.

Cho dù hiểm độc, quắt quay,

Không qua lẽ phải, chẳng xoay đạo trời.

Kẻ bất nhân nhất thời nổi tiếng,

Không người thì trời diệt chẳng tha

Tự nhiên được của đầy nhà,

Một là lộc lớn, hai là họa to

Có lúc bại, trời cho thắng cuộc,

Hoặc đang nghèo bỗng được giầu sang.

Thế gian yêu lắm ghét nhiều,

Khen nhiều chê lắm, bao điều bất an.

Mừng nhiều lo lắm chẳng oan,

Vinh nhiều nhục lắm, thế gian thường tình.

 

Đừng cậy thế mà sinh kiêu ngạo,

Chớ cậy quyền để tạo lợi riêng.

Làm một điều thiện cũng nên,

Trừ một việc ác quả nhiên rất cần.

 

 

Sinh sự thì bận tâm mệt sức,

Nên nhún nhường tạo Đức thì hơn.

Việc chuẩn bị kỹ hãy làm,

Việc không chuẩn bị chớ tham làm bừa.

 

Bao kinh nghiệm từ xưa đã thấy,

Sai một ly đi mấy dặm đường.

Quả quyết được việc lẽ thường,

Đắn đo hỏng việc, ấy gương ở đời.

 

Sắc chẳng mê người, chính người mê sắc,

Rượu chẳng say người, chỉ tại người say.

Đừng nên vui quá nói chầy,

Chớ vì sướng quá vung tay làm liều.

Quý chim phượng bởi yêu lông cánh,

Trọng người hiền ở cách nói năng.

Gặp khi hoạn nạn khó khăn,

Hành vi tế nhị, nói năng lựa lời.

 

Mười mắt rồng và mười tay trỏ

Thật công minh sáng tỏ sâu xa

Quả đào người quý tặng ta,

Ta lấy quả mận đem ra biếu người.

Cung nỏ lạ chớ cầm mà khốn,

Ngựa chẳng quen, chớ cưỡi mà ngã.

Qua ruộng dưa chớ sửa giầy,

Dưới gốc mận chớ giơ tay sửa đầu.

 

Coi chừng chốn cửa cao nhà rộng,

Đừng cậy rằng tông tộc mình to.

Họ to lắm chuyện tò mò,

Cửa cao thường giở những trò kiêu căng.

 

Người tốt, chơi nói năng chân thật,

Kẻ xấu, chơi như mật chết ruồi.

Người tốt bền chí thức thời,

Khó khăn thuận lợi vẫn nuôi chí bền.

Kẻ xấu thường van xin lúc khó,

Được việc rồi thì nó quên luôn.

 

Mới hay muôn sự vui buồn

Những điều chí thiện phải luôn ghi lòng.

 

Bài thứ sáu – THIỆN ÁC

 

Bài thứ sáu : Hai dòng Thiện –Ác

Là hai điều thật khác nhau xa

Trăm năm trong cõi người ta,

Dở, hay báo ứng, thật là công minh.

Báo ứng có khi nhanh, khi chậm,

Nhà tối, nghèo nào dám coi khinh.

Việc làm phúc nếu vô tình,

Như tuồng lánh nạn, đáng khinh khỏi bàn.

Kẻ bạo ngược mưu toan việc xấu,

Bịp được người sao giấu được trời

Vầng dương mọc lặn luân hồi,

Mặt trăng tròn khuyết, đầy rồi lại cong.

Tình người cũng tụ, xong lại tán,

Buồn lại vui, vui chán lại buồn.

Cỏ hoa sớm nở tối tàn,

Cây tùng cây bách muôn ngàn sức xuân.

 

Mỗi ngày xét bản thân ba lượt

Đêm nhiều người sẽ biết cho ta.

Số trời vốn sẵn định ra,

Giàu sang có mệnh, vinh hoa có ngày.

Hoa nở muộn do cây cằn cỗi,

Đời chưa vui, bởi nỗi khổ nghèo.

Giàu sang, khách đến thăm nhiều,

Nghèo hèn, thân thích ra chiều cách ly.

 

Lúc dư dật, phòng khi túng thiếu,

Khi sướng vui, phải liệu khi buồn.

Một nhà nề nếp cương thường,

Cha từ, con thảo, đẹp gương vợ chồng.

Tình anh em : thuận lòng nhân ái,

Nghĩa bạn bè qua lại giúp nhau.

Người con phòng lúc ốm đau.

Chứa thóc phòng đói là câu chí tình.

Giúp người gặp cảnh tình nguy cấp,

Hoặc cứu người trong lúc gian nguy.

Có mới đừng nới cũ đi,

Tiếng nói một nẻo, bụng suy một đằng.

Chớ có lành bắt vành ra méo,

Đừng làm cho bé xé ra to.

Một chút tà tất quanh co,

Người ta sẽ tỏ các trò quắt quay.

Lời không cánh mà bay khắp ngả,

Đạo đức cao thì gốc cả, rễ sâu.

Ngọc vết mài chẳng khó đâu,

Nói sai, biết sửa bao lâu mới lành.

Lời đã nói bay nhanh hơn gió,

Bốn ngựa phi cũng khó đuổi theo.

Khinh người là thói tự kiêu,

Người ta khinh lại, đời nào chịu thua.

Tự khen mình mà chê người hỏng,

Thì người ta có trọng gì mình.

Hãy suy Thiện –Ác, Nhục –Vinh

Ở sao có nghĩa có tình thì hơn.

Việc gia thất muốn yên mọi sự

Mỗi người nên biết xử phận mình

Đừng mưu lấy của bất minh

Chớ ghen ghét với người mình còn thua.

Vợ người ta chớ đùa cợt nhả,

Đừng gièm pha quấy phá hôn nhân.

Một năm có một mùa xuân,

Mỗi ngày chỉ một giờ dần đầu tiên.

 

Cháy nhà có nước liền dễ chữa,

Láng giềng cần giúp đỡ lẫn nhau.

Tình đời lắm chuyện thương đau,

Anh em để mẩt lòng nhau thật buồn.

Người xưa bảo : thói quen thường vẫn vậy,

Đàn bà thì khó dạy khó chiều.

Quân tử phép chẳng cần theo,

Tiểu nhân chẳng chấp những điều lễ nghi.

 

Thấy ai có vật gì quý giá,

Chớ lân la tán gạ, nài xin.

Công việc nào quá khó khăn,

Đừng buộc người khác phải lăn vào làm.

Muốn trách người, phải xem mình trước.

Nếu tha mình, tha được người ta.

Đứa bất chính, kẻ gian tà,

Kết thân với chúng dễ mà tàn thân.

Không minh bạch miếng ăn lời nói,

Là nguyên nhân cái tội hại mình.

Lúc trẻ lao động nhiệt tình,

Khi già cuộc sống gia đình thảnh thơi.

Trẻ mà lêu lổng chơi bời,

Về già chắc hẳn cuộc đời gian truân.

 

Của cho con đâu cần vàng ngọc

Mà cho con được học được hành.

Cho muôn khoảnh ruộng tốt xanh,

Chẳng bằng cho chúng nghề lành trong tay.

Mộng làm giầu thường hay thất đức,

Làm điều nhân khó được giầu sang.

Thuốc hay khó chữa bệnh oan,

Của nhặt được khó mở mang giầu bền.

 

Bất nghĩa mà trở nên phú quý,

Như mây bay bọt khí nổi trôi.

Phúc do trong sạch lòng người,

Đức từ kiên nhẫn sống đời yêu thương.

Tham lam lắm tất vương tai họa,

Sống bất nhân tội chả thoát đâu.

Tiểu nhân chẳng giúp ai đâu,

Bởi trong lòng họ, như đầu mũi kim.

Chỉ gai góc rắp tìm mưu kế,

Cốt hại người để mong lợi mình.

Người quân tử có bất bình,

Liệu mà xa lánh, kẻo sinh hận thù.

Tình người khác chi tờ giấy trắng,

Như cuộc cờ vốn chẳng giống nhau.

Khéo mà ứng xử với nhau,

Đừng làm ai đó phải chau đôi mày,

Chớ mạt sát day tay mắm miệng,

Để người ta phải nghiến hàm răng.

Ngựa gầy nên kém chạy hăng,

Người không hồ hởi phải chăng vì nghèo.

 

Sẵn tiền, rượu thì nhiều bạn đấy,

Lúc lâm nguy nào thấy một ai.

Luật trời báo ứng chẳng sai,

Không trước mắt, cung lâu dài chứng minh.

 

Bài thứ bẩy –TÍCH THIỆN

 

Bài thứ bẩy khuyên luôn tích thiện,

Chứa điều lành như mặt trời lên.

Rất vô tư, rất tự nhiên,

Sáng soi muôn nẻo chẳng phiền đến ai.

Chứa điều ác là tai họa đấy,

Lửa trên đầu nào thấy mà lo.

Chuyện ác dù chẳng nói to,

Trên trời rung động tự hồ sấm vang.

Việc mờ ám tưởng không ai biết,

Nhưng mắt thần như điện sáng soi.

Giầu sang đúng phận thì thôi,

Nghèo hèn xử sự đúng môi trường nghèo.

Suy từ ta ra nhiều người khác,

Khoe điều lành, điều ác giấu đi.

Thấy ai làm ác điều gì,

Khéo can ngăn, hoặc nghoảnh đi chớ nhìn.

Chuyện người khác không đem đàm tiếu,

Mặc người ta, mạnh, yếu, giở, hay.

Nói nhiều nghe cũng chán chầy,

Khuyên nhiều sinh oán, bấy nay lẽ thường

 

Khi yêu cũng nên lường lúc ghét,

Lúc ghét nên nhớ đến khi yêu.

Việc làm, lời nói, ít nhiều,

Phải nên hướng thiện, phải theo phận mình.

 

Bài thứ tám –AN PHẬN

 

Giữ yên phận là bài thứ tám

Đừng để người đụng chạm đến ta

Biết lo tính, biết phòng xa,

Khoan dung ngay thẳng hẳn là sống lâu.

 

Nước chân chính, lòng trời cũng thuận,

Quan thanh liêm dân hẳn yên lòng

Vợ hiền là phúc nhà chồng,

Các con hiếu thảo thì lòng cha yên.

 

Dẫu có tài giỏi chớ nên khoe khoác,

Nhiễu sự sao bằng được an nhàn.

Bốn mùa ấm lạnh xuềnh xoàng,

Nói năng thận trọng rõ ràng được yên.

Của dễ được tất nhiên dễ mất,

Được vất vả thì mất khó khăn.

Làm thong thả việc chắc ăn

Việc đời muôn sự khó khăn ban đầu.

Người xưa nói những câu triết lý:

Vào núi bắt hổ dễ như chơi,

Còn khi mở miệng dạy người,

Khó khăn nhiều lắm, liệu lời đắn đo.

Quân tử cần ăn no uống đủ,

Không cầu kỳ cốt giữ bình yên.

Trò tìm thầy học dễ tìm,

Thầy tìm trò tựa mò kim đáy hồ.

 

Việc chia chác chẳng lo ít ỏi,

Chỉ đáng lo cái tội không đều.

Không lo hoàn cảnh túng nghèo,

Chỉ lo xã hội nhiều điều bất công.

Quá nham hiểm bởi lòng tham lắm.

Quá nhẫn tâm lòng hẳn quá tàn.

 

Bài thứ chín – ĐẠI ĐẠO

 

Giữ đại đạo là bài thứ chín,

Lấy chữ “Trung” chữ “Tín” làm đầu.

Người quân tử đạo đức cao,

Không kiêu thái, giữ trước sau chan hòa.

Khi cần giúp người ta việc gấp,

Chẳng chọn ngày, đừng bấm ngón tay.

Người được ta cũng mừng thay,

Người đau, thông cảm đắng cay cho người.

Nói thao thao ngàn lời tươm tất,

Cũng không bằng việc thật đã làm.

Kiếm lời chê trách nhân gian,

Chính là chuốc lấy mối oan hại mình.

Ta giúp người chân tình độ lượng,

Là góp điều làm phước đáng tin.

Trăm nghe không bằng một nhìn,

Một việc thực tế hơn nghìn lời suông.

 

Việc trời đất cũng thường thay đổi,

Sáng gió mưa, chiều đã đẹp trời.

Giống như cuộc sống một con người

Sáng chiều, may rủi đầy vơi chuyển vần.

Có việc đối với ta như thế

Nhưng với người đâu rễ giống ta

Khi lời nói trái phát ra,

Tất nhiên cái họa cũng sà vào theo.

 

Của phi nghĩa đưa vào cửa trước,

Nó cũng tìm đường bước lối sau.

Đừng làm những chuyện không đâu

Chớ tham của lạ để sau bận lòng

Việc đừng quá lao tậm cật lực,

Nên đắn đo vừa sức thì làm,

Không lười biếng chẳng tham lam

Học điều Đại đạo –để làm thực tâm.

 

Bài thứ mười ĐỘC THƯ

 

Bài thứ mười khuyên cần đọc sách,

Sách là thầy dạy mách cho ta.

Bao điều đạo lý sâu xa,

Văn minh khoa học bao la đất trời.

Ham đọc sách thì trời chẳng phụ.

Có chí bền ắt sẽ làm nên.

 

Mẹ cha vui bởi con hiền,

Gia đình hòa thuận đẹp yên mọi phần

Đạo đức cao, quỷ thần nể sợ,

Được mọi người giúp đỡ tin yêu.

Thấy việc thiện hãy làm theo,

Biết lỗi sửa lỗi là điều đáng khen

 

Cách đối xử phải nên suy xét,

Đừng cạn tình trái nết – mất lòng.

Muốn nhanh vội việc khó xong,

Ham lợi nhỏ việc lớn không hoàn thành.

Tre uốn mạnh chẳng vênh cũng gẫy,

Chó cắn càn bởi thấy cùng đường.

Đánh chuông chuông tất kêu vang,

Người quá uất ức sẵn sàng đấu tranh.

Chớ nên hám lợi hám danh,

Ít ham muốn mới yên lành bền lâu.

 

Bài mười một – DO MỆNH

 

Bài mười một dạy câu số mệnh

Mọi điều đều do tiền định cả rồi.

Giầu sang cũng bởi tại trời,

Công danh có mệnh, có thời dở hay.

Đồ ăn uống xưa nay sản xuất.

Cũng đều do trời đất khởi sinh.

Người khôn làm đúng phận mình,

Tiểu nhân mạo hiểm hiếu danh, khoe tài.

 

Nói thẳng thường trái tai chẳng thích,

Hãy xét suy, có ích hãy làm.

Ở đời lắm thói đa đoan,

Thuốc đắng giã tật, thế gian tỏ tường.

Thấy người tốt chớ nên xem thường,

Hãy nghiêm suy ngẫm tìm đường mà theo.

 

Bài mười hai –THÀNH SỰ

 

Bài mười hai lo toan sự nghiệp

Muốn thành công phải biết lo xa.

Mưu sự là ở người ta,

Thành công tốt đẹp suy ra tại trời.

Có trường hợp ở nơi nguy bại,

Được trời phù nên lại thắng to.

Hoặc khi tai nạn gay go,

Gặp may lại được trời cho an toàn.

 

Có đức mà nghèo hèn cơ cực,

Hẳn là do nghiệp chướng từ lâu.

Bất lương mà được giầu sang,

Chắc là kiếp trước bắc cầu thiên duyên.

 

Nếu phận nghèo thì nên nghèo trước,

Chớ dã tâm, bạo ngược khởi đầu.

Biết mệnh là bởi hiểu sâu,

Sống yên vô sự khác nào thần tiên.

 

Muốn sống lâu phải rèn luyện tốt,

Từ lao động ăn uống thuốc men…

Giữ gìn chừng mực cho quen,..

Một ngày vui khoẻ là tiên một ngày.

 

Không thuốc nào chữa bệnh khanh tướng thọ,

Có tiền đâu mua được con hiền.

Vợ ngoan chồng chẳng ưu phiền,

Có con hiểu thảo cha yên cõi lòng.

 

Bởi uống say, nói không tử tế,

Vì tiền tài, huyunh đệ từ nhau.

Nên xuống ngựa lúc qua cầu,

Có đường bộ chớ rủ nhau đi thuyền.

Áo trắng thì bụi đen dễ dính,

Khó an toàn bởi tính kiêu căng.

 

Lòng người hiểm hơn núi rừng,

Hãy suy luận, để coi chừng đó nghe.

 

“Bọ ngựa bắt con ve tưởng bở

Sẻ lại rình bọ ngựa kề bên;

Người săn tặng sẻ mũi tên;

Hổ lang rình sẵn xông lên vồ người.

 

Hổ đắc ý lên rồi định biến,

Ngờ đâu xa xuống giếng mạng toi!

Mới hay mạnh yếu ở đời,

Nhãn tiền báo ứng rạch ròi phân minh”

 

Bài mười ba –TRÍ GIẢ

 

Bài mười ba dạy điều trí giả.

Bậc trí giả trọng mình hơn hết,

Bởi học nhiều hiểu biết càng sâu.

Chẳng cần đấu lý với nhau,

Chẳng cần đấu lực, đối đầu với ai.

Giữ danh dự trong ngoài kính nể,

Bảo vệ cho thân thể an toàn

Biết tự kiềm chế thì yên.

Không bị nhục cũng chẳng phiền đến thân.

 

Có những chuyện người trần khó biết,

Mà trời cao nghe thấy mọi điều.

Bảo rằng lỗi nhỏ chẳng sao,

Nhiều lỗi góp lại lớn lao khó lường.

 

Một mình chớ đi đường nguy hiểm,

Thuyền chở tham sinh chuyện đắm đò.

Chuyện người ta chớ tò mò,

Có trách thì trách lỗi to của người.

Thù oán cũ thì thôi quên tuột

Trước khoan hòa sau được điều hay.

Yêu đừng yêu quá đắm say.

Ghét đừng ghét đắng ghét cay sinh thù.

 

Có người chẳng được như ý muốn,

Nên bảo ban đại lượng thì hơn.

Trọng danh tiết như Thái sơn,

Người không thì chẳng giản đơn việc nào.

Giàu sang chẳng tự cao cậy thế,

Nghèo hèn không luồn lụy cúi đầu.

Kẻ vụng chẳng thấy việc đâu.

Người khéo thì việc bù đầu, luôn tay.

Bậc trí giả trước đây đúc kết

Ta nên tìm học biết mà theo

Luật ông Tiêu Hà dạy sáu điều

Lễ, ông Phu Tử cũng nêu ba phần.

 

Bài mười bốn - MINH CHÂU

 

Ngọc Minh châu là thiên mười bốn

Ngợi ca đức khiêm tốn sáng trong.

Ngọc là vật quý vô cùng,

Minh châu nổi sáng trong vùng tối tăm.

Ngọc muốn đẹp phải năng mài giũa,

Cố nâng niu gìn giữ kẻo hoài.

Trời cho ta tấm hình hài,

Phải lo tự giác mà bồi bổ thêm.

 

Con hay, cha chớ nên khen,

Cha mắc lỗi, con chớ nên nói nhiều.

Thành công chẳng được tự kiêu,

Hưởng phúc, càng phải biết điều đừng tham.

 

Bài mười lăm HỌC VẤN

 

Bài mười lăm răn đường học hỏi.

Có tư duy mạnh giỏi hơn người.

Trước là đẹp đạo đất trời,

Sau là xây dựng tình người đẹp hơn.

 

Hiếu với cha thời con hiếu lại,

Kính trọng người người lại trọng ta.

Chớ tin những thuyết tà ma,

Nó làm chìm đắm xấu xa lòng người.

 

Người xưa bảo tiền tài – phấn đất,

Nghĩa nhân kia mới thật là ngàn vàng.

Đường dài thử sức gian nan,

Sống lâu mới biết ruột gan tình người.

Biết giữ phận thì đời nhàn hạ,

Không gian tham tai họa khó vào.

Vận đen vàng hóa ra thau,

Vận đỏ sắt cũng ra màu vàng tươi.

Rượu trắng nhuốn đỏ mặt người

Bạc vàng dễ nhuộm lòng người tối đen.

 

Nghèo giữa chợ ai thèm thăm hỏi,

Giàu trên rừng có khối người thương.

Vẽ hổ khó vẽ bộ xương,

Biết người biết mặt khó lường lòng ai.

Không đáng sợ sức hai con hổ,

Chỉ sợ người ăn ở hai mang

Sống đại lượng phúc huy hoàng.

Mưu sâu tai họa ắt càng thêm sâu.

Vợ chồng hiệp sức nhau bàn bạc,

Có tiền mua nhiều lạng vàng dòng.

Vợ chồng ăn ở khác lòng

Có tiền đâu dễ sắm cùng cái kim

 

Trị nhà như cầm cương ngựa dữ,

Trị nước như dạo thử cung đàn.

Cho nên học hiểu và làm,

Lẽ trời với lẽ dân gian hài hòa,

Muốn xây phú quý vinh hoa,

Cái nền học vấn phải là đâu tiên.

 

Bài mười sáu TU ĐỨC

Bài mười sáu thường xuyên tu đức,

Phải chuyên tâm nỗ lực hàng ngày.

Học rồi thực tế làm ngay,

Rút ra kinh nghiệm dở hay sự tình.

Tu đức tốt tướng sinh ra tướng,

Con thảo hiền sinh được cháu ngoan.

Nhà nghèo nhờ vợ đảm đang,

Nước loạn cầu tướng giỏi giang, trung thành.

 

Âm dương hòa không sinh lụt bão,

Vợ chồng hòa thì đạo nhà nên.

Tránh điều nghi kỵ hờn ghen,

Đàn bà tiếp khách phải nên nhớ rằng:

Cử chỉ đẹp, nói nhẹ nhàng,

Khi đưa tiễn khách xin đừng quá chân.

 

Bốn đức tính Công, Dung, Ngôn, Hạnh,

Người đàn bà gánh nặng lo toan.

Đừng kiêu sa, chớ lăng loàn,

Đừng ghen ghét chớ giận hờn với ai.

Gái yêu chồng đẹp vui mọi vẻ,

Giúp chồng nuôi con khỏe con ngoan.

Dựng xây tôn thống họ hàng,

Sáng trong như ngọc, nết càng đẹp ra.

Khi lòng dục dâm tà đã mở,

Quên yêu thương bỏ cả lễ nghi.

Nết hư dù chỉ một ly,

Tiếng tăm đồn đại bay đi khắp vùng.

 

 

Bài mười bẩy –CÁT NHÂN

 

Rèn người tốt là chương mười bẩy,

Sống nhân từ ai nấy mến thương.

Trời cho Phúc, Lộc, Thọ trường,

Sống vui thanh thản đời thường gặp may.

 

Cha dạy con từ khi còn nhỏ,

Chồng khuyên vợ từ khi mới về.

Không quá vui đến đam mê.

Bài bạc, nghiện hút, rượu chè, gian dâm.

 

Tình dục chớ tham lam buông thả,

Sức suy tàn rệu rã, ai thương.

Của quý chớ có phô trương,

Bạc vàng phải khóa trong dương trong hòm.

 

Buồng the chớ để ai nhòm

Của còn nguyên vẹn, tình còn dài lâu.

 

Bài mười tám – LƯƠNG TÀI

 

Bài mười tám răn chữ lương tài

Lương là đạo cao đức trọng

Có lương tài chết sống thơm danh.

Người tài lành có bạn lành,

Người ác bạn ác kết thành tai ương.

Người lương tài nên thường nói thẳng,

Kẻ xấu xảo nịnh chẳng thương yêu.

Người lành nói ít làm nhiều,

Tiểu nhân múa mép, lắm điều ba hoa.

 

Người lành không gian tà uẩn khúc,

Hành động luôn chính trực, phân minh.

Kiệm cần có lý có tình,

Để không mang tiếng rằng mình kiêu sa.

Vụng may áo gấm cũng hỏng,

Làm bậy thì phá hỏng cơ ngơi.

Biết ít thì sống thảnh thơi,

Biết nhiều lắm chốn, lắm điều thị phi.

 

Người giúp việc cần chi đẹp xấu,

Cần chọn người trung hậu, chăm ngoan.

Lòng người, nọc rắn khó phân,

Mặt trời ai biết chuyển vần như xe.

 

Của xóm Đông lấy về hôm trước,

Đến hôm sau nó ngược xóm Đoài

Việc hôm nay, việc ngày mai.

Hãy đem hai chữ Lương Tài mà xem.

 

Bài mười chín LẬP THÂN

 

Bài mười chín dạy đạo lập thân.

Đạo lập thân muốn bền muốn vững,

Phải khôn ngoan trong cứng ngoài mềm,

Phúc nhà thuận dưới kính trên,

 

Kiệm cần kiên nhẫn là nền trị gia,

Làm quan phải giỏi và liêm khiết,

Cẩn trọng luôn và biết thương dân.

Mới hay bí quyết lập thân,

Kiên trì: Liêm chính kiệm cần thì nên.

 

Bài hai mươi –THỊNH ĐỨC

 

Bài hai mươi là thiên thịnh đức

Một số điều đã được rút ra.

Người thực tài chẳng ba hoa,

Thường khi dung mạo cứ là như ngây.

 

Có ruộng không cấy cày thì đói,

Có sách không học hỏi thì ngu.

Trai không dạy, khác chi lừa,

Gái ngu thì cũng giống như lợn sề.

 

Trai sợ vợ bởi vì nhu nhược,

Gái kính chồng vì được nết ngoan.

Phải dè xẻn bởi thiếu ăn,

Sống xa xỉ bởi nguyên nhân của thừa.

 

Vừa lười nhác, lại vừa ngu xuẩn,

Thì giầu sang đâu đến mà mơ.

Hay đến thân cũng thành sơ,

Ngồi dai chủ chẳng bao giờ thích đâu.

 

Uống rượu đấu khẩu nhau ít chứ,

Mới là người quân tử phòng thân.

Thóc tiền sòng phẳng đồng cân,

Mới là đức độ, tinh thần trượng phu.

 

Con cá bị giật lên bờ

Có hối cũng chẳng bao giờ được tha.

Làm việc xấu đã sa pháp luật,

Hối ba lần cũng thật muộn mằn.

Nước loạn chớ đến dung thân

Nơi nguy hiểm chớ bước chân lần vào.

 

Phép quyền biến làm sao biết trước,

Phải đắn đo mong được an toàn,

Lò lửa ví như phép quan,

Lòng người như sắt như gang trong lò

 

Người yếu phải nương nhờ người mạnh,

Giúp được người là hạnh phúc thay,

Không thù dai chẳng hại ai,

Tuy nhiên vẫn phải nhớ bài phòng thân.

 

Trên lượng cả, chẳng cần phạt dưới,

Kẻ trịch thượng từ chối đừng chơi.

Nước trong ít cá lội bơi,

Sống nhiều khe khắt, ít người mến thân.

 

Bài hai mươi mốt – HIẾU HOÀN

 

Bài hai mươi mốt hai chữ hiếu hoàn.

Hiếu hoàn luật xoay vần vay trả,

Báo ứng nhanh gương đã nhiều rồi.

Nhạt nồng khéo ở lòng người,

Dở hay đã có đạo trời phân minh.

 

Trời mưa gió thình lình bất chắc,

Người có khi dồn dập tai ương.

Có đức dễ được thọ trường,

Tu nhân tích đức, phúc thường dầy thêm.

Lừa dối người là mầm tai họa,

Phúc dầy nhờ lượng cả bao dung.

Cẩn thận chẳng sợ khốn cùng,

Nhẫn thì chẳng nhục, vạ không đến mình.

 

Sống bình tĩnh được yên lành mãi

Biết kiệm cần đỡ phải reo neo.

Trên sông tùy khúc bơi chèo,

Vào nhà tùy lúc liệu chiều tuân theo.

 

Dạy con cháu bằng điều từ thiện,

Lấy khoan dung điều khiển người theo.

Một năm kế hoạch ăn tiêu,

Không gì bằng cấy trồng nhiều lúa khoai

Kế mười năm dài hơn một chút,

Không gì bằng trồng được nhiều cây.

Còn như kế hoạch lâu dài,

Là trồng cây đức dẻo dai liền liền.

Dù lắm tiền thuốc men tẩm bổ,

Chẳng bằng đêm nằm ngủ riêng giường.

Dạy con lần mở văn chương,

Ở trong vùng bạc kim cương có thừa.

 

Một con được ơn vua lộc nước,

Để cả nhà cũng được thơm lây.

Siêng năng học tập đêm ngày,

Để mà chiêm nghiệm lời này khuyên răn.

 

Việc đúng cứ tiến hành đừng sợ,

Trời sẽ cho phúc ở tầm tay

Lấy điều đạo lý xưa nay,

Truyền cho con cháu đời này đời sau.

 

Bài hai mươi hai NĂNG TĨNH

 

Bài hai mươi hai dạy người điều năng tĩnh.

Biết đắn đo sống hẳn yên lành.

Biết suy nghĩ việc dễ thành,

Cầu đâu được đấy vui lành biết bao.

 

Khi sống biết lo sau tính trước.

Lúc lâm chung hẳn được yên lành.

Tuổi già lắm bệnh phát sinh,

Đều do lúc trẻ tự mình làm ra.

 

 

Lúc thịnh đạt gian tà trái đạo,

Khi tuổi già quả báo coi chừng!

Sợ thay “Đốm lửa thiêu rừng”,

Nửa câu nói trái, sau đừng khoe khôn.

 

Biết điều thiện ôn tồn nhắc bạn,

Chỉ nơi nguy cho người khách lánh xa.

Khi lòng hiểm độc gian tà,

Niệm kinh gõ mõ quả là vô duyên.

Đem bố thí bằng tiền bất chính,

Cũng chỉ là vô ích mà thôi.

Chỉ một hành động xấu chơi,

Nói khôn nói khéo, ai người còn tin.

 

Sống thừa mứa bạc tiền nhung lụa,

Chắc đâu bằng sống đủ mà vui.

Gần mực thì ắt phải đen thui

Gần son thì đỏ sự đời chẳng sai.

 

Gần người ngu biến hay thành dốt,

Gần người hiền càng tốt thêm ra.

Người quân tử đức nở hoa,

Tiểu nhân tìm cách xấu xa học đòi.

Ngẫm xem muôn sự ở đời,

Ác thì gặp ác, nhân thời gặp nhân.

Con ngựa cùng, vung chân đập phá,

Chim cùng đường, liều mổ đòi bay,

Thú cũng muốn xổng chạy dài,

Bản năng tự vệ muôn loài bẩm sinh.

 

Người giả dối thì đừng bắt chuyện,

Gái lẳng lơ thì biến cho xa.

Những người ngay thẳng hiền hoà,

Kiên tâm gần gũi để mà học theo.

 

Kẻ nghiện ngập lêu têu, hợm hĩnh.

Hãy coi chừng ! Cố tránh đừng chơi.

Mới hay hậu bạc ở đời

Trắng, đen cũng bởi lòng người mà ra.

 

Bài hai mươi ba - THƯ TẤT

 

Bài hai mươi ba là bài thư tất

Sách Bạch Vân kết luận dạy rằng:

Muôn việc khởi tự cái Tâm,

Nếu lòng buông thả, lỗi lầm đến ngay.

 

Học điều hay tỏ bài chân lý

Bảo tồn Chân - Thiện - Mỹ sáng trong

Thánh nhân trợ giúp bao dung,

Tiến –lui, còn - mất mới mong tinh tường.

 

Không để mất kỷ cương chính đạo,

Lời thánh hiền dạy bảo thiêng liêng;

Hiếu-Trung-Cần-Kiệm-Chính-Liêm

Xa gần kính trọng, dưới trên thuận hòa.

Sự kính nhường coi là cái gốc,

Lấy học hành tri thức nâng lên.

Chân thành học hỏi thường xuyên,

Muốn tu cái đức phải nghiêm với mình.

 

Những điều giáo huấn anh minh,

Thành tâm bái phục, ân tình chẳng quên.

Lấy từ “http://vi.wikibooks.org/wiki/B%E1%BA%A1ch_V%C3%A2n_Gia_Hu%E1%BA%A5n

THAM KHẢO THÊM

Danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm

            Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà văn hoá lớn. Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22(1491) tại thôn Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái Bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỉ cương.

Ông khôi ngô tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ văn chữ Nôm. Tuổi trẻ học rất giỏi, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.

Lớn lên ông theo học bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá(Thanh Hoá). Ông sáng dạ, thông minh lại nết na, chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.

Tuy vậy, thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Nhưng sau có nhiều người khuyên nhủ, ông đi thi tiến sĩ cập đệ (Trạng Ngyên) năm Đại Chính thứ sáu đời Mạc Thái Tông (1535). Vua Mạc cất ông lên làm Tả thị Lang Đông Các Học Sĩ. Vì ông đỗ Trạng Nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu rồi thăng tước Quận Công nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.

Làm quan được 7 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542.

Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ, mở trường dạy học cạnh sông Hàn Giang, do đó còn có tên là Tuyết Giang và được học trò gọi ông là “Tuyết Giang Phu Tử”. Học trò của ông có nhiều người cũng nổi tiếng như trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, một nhà ngoại giao hay Nguyễn Dữ, tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền. Có người theo Lê, có người theo Mạc, có người ở ẩn. Đương thời họ Nguyễn, họ Trịnh đều phái sứ giả đến hỏi ông những việc hệ trọng. Ông là tác giả văn thơ lớn trong thế kỉ XVI. Ông để lại tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập (khoảng 700 bài thơ) và tập thơ Nôm Bạch Vân Quốc ngữ thi (hơn 170 bài). Tương truyền, các tập thơ sấm kí có tên Trình Quốc Công sấm kí, Trình Tiên sinh quốc ngữ là của ông. Thơ ông mang tiếng nói chung của trí thức dân tộc phải sống trong giai đoạn suy vong của chế độ phong kiến, vừa ca ngợi sự trong sạch, thanh bạch của con người chân chính, vừa tố cáo sự thối nát của xã hội đương thời. Ông mất năm  At Dậu(1585) hưởng thọ 94 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng Vương đã thay mặt vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái Phó Trình Quốc Công.

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân, gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán(còn lưu lại) và hai tập Trình quốc công Bạch Vân thi tập và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi, (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm) hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy đức bao chùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời

 Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM  và giai thoại

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), tự là Hanh Phủ, hiện là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, Huyện Vĩnh Lai, Hai Dương, nay thuộc xã Lý Học, Huyện Vĩnh Bảo, Thành Phố Hai Dương. Xuất thân trong một gia đình tri thức nho học cha là Nguyễn Văn Đạt, có văn tài có học hành, mẹ là Nhữ Thị Thục, con thượng thư Nhữ Văn Lan. Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh, hiếu học, được thầy truyền thụ môn dịch lý và sách thái ất thần kinh năm 45 tuổi (1535), ông mới đi thi và đỗ trạng nguyên. Ông làm quan với nhà Mạc được 8 năm, thấy gian thần hoành hành, bè phái, triều đình đổ nát, ông dâng sớ xin chém 18 công thần, nhưng không được chấp nhận năm 1542 (Mạc Phúc Hai – Quảng Hoà thứ hai ông xin về tu sỹ, làm nhà ở làng gọi là Am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sỹ. Ông mở trường dạy học, mở chợ, xây dựng cầu, chùa …

Mặc dù ông ở nhà nhưng vua tôi Nhà Học vẫn kính nể, trọng dụng, có công việc lớn vẫn đến hỏi. Ông được phong trình Truyền Hầu, sau lại được thăng lại Bộ Thượng Thư và phong tước Trình Quốc Công (nên người đời thượng gọi là Trạng Trình).

Học trò của ông nhiều người nổi tiếng như : Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ … Ông thọ 95 tuổi, ông được học trò truy tôn là Tuyết Giang Phu Tử.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhân vật tiêu biểu có nho sĩ ẩn dật, là nhà triết học, là tác giả lớn của văn học trung Đại Việt, “một cây đại thụ rợp bóng đến gần một thế kỷ”, ông nổi tiếng là nhà lý học, người để lại những là sấm tiên tri, theo truyền thuyết còn ứng nghiệm cho đến 4,5 thế kỷ sau. Giáo  sư Trần Đình Hựu có viết rằng “trong lịch sử của ta, người nổi danh về trí chứ không phải về công, về đức như thế là rất hiếm, cái trí, cái tiên tri của Trạng Trình theo truyền thuyết là nhờ lý học, dịch học” (Nho giáo và văn học Việt Nam Trung Cận Đại. NXB giáo dục. H.1998, trang 132 )

Sấm là lời nói kín, có tính dự đoán về các sự kiện của tương lai, sấm thường xuất hiện vào thời loạn. Xung quanh nhân vật Nguyễn Bỉnh Khiêm, có rất nhiều lời sấm truyền. Các sử gia phong kiến cũng nói nhiều đến lời sấm của ông, song, có lẽ từ trong dân gian nhân dân cũng thêu dệt nên những lời sấm rồi “dán gán nhãn mác” cho Trạng Trình. Các nhà nghiên cứu cho rằng, có nhiều là sấm đích thực là của Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhiều lời sấm đang nằm trong “trường huyền thoại”, chưa được xác định rõ tác giả. Những lời sấm mà tương truyền là của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì có rất nhiều điều để bàn, nhất là vấn đề văn bản và tác giả của nó. Song, có điều chắc chắn Nguyễn Bỉnh Khiêm là người tài giỏi, có tiếng tăm, lại tinh thông dịch học, lý học, có thể biết trước thời cuộc. Và dẫu những lời sấm truyền là của ông hay không phải của ông, điều đó cũng cho thấy tài năng, tiếng tăm của ông là rất uy tin và tin cậy bởi vì, phải là người như thế nào thì dân gian mà gắn những lời sấm truyền cho tên tuổi ông, chứ những cái tên văn kèo, văn cột …thì chẳng thấy một bà tiên tri, một lời sấm nào cả? …chúng tôi xin phép cho ra đây mấy lời sấm truyền trong dân gian và lời sấm được các sử gia phong kiến chép lại.

Năm 1568, khi Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết, trong lòng nghi sợ, bèn nói với mẹ là họ Phạm sai người đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông vừa lúc dạo chơi vườn sau thấy núi non bộ đá chồng chất ngăn ngay dưới hiên nhà, lại gặp đàn kiến bò trên núi, ông nhìn kiến cười và rằng “hoành sơn nhất đài, khả dĩ dung thân” (một giải Hoành Sơn đủ để nương thân). Bà họ Phạm biết ý, kể lại, Nguyễn Hoàng vốn rất thông minh, hiểu ngay, mới nghĩ kế xin đi Trấn Thủ- Thuận Quảng. Rồi sau đó, từ đất ấy, xây dựng nên cơ ngơi. Sau đó, nhà Nguyễn đã đổi chữ “khả dĩ dung thân” thành “vạn đại dung thân” với hy vọng sẽ giữ được cơ ngơi nhà Nguyễn lâu dài, mãi mãi. Tư tưởng này đã không thành. Cách mạng tháng 8, năm 1945 đã xoá tan xiềng xích của thực dân Pháp và xoá bỏ chế độ phong kiến tồn tại gần 1000 năm ở Việt Nam, đồng thời cũng là chấm dứt 143 năm trị vì của triều đình nhà Nguyễn.

Trong dân gian, còn lưu truyền câu sấm như một lời tiên tri của Trạng Trình:

“Cửu cửu kiền không dĩ định

Thanh minh thà tiết hoa tàn

Trực đào đương đầu mã vỹ

Hồ binh bát vạn nhập tràng an” 

(Đạo càn khôn đã định rằng 9 lần 9 là 81 năm âm lịch), từ tiết thanh minh, quân Pháp bước vào thời kỳ tàn lụi (chiến dịch Điện Biên Phủ), đến đầu năm Mùi (1955), cuối Ngọ (1954), 8 vạn quân cụ Hồ về tiếp quản tràng an (Thủ Đô Hà Nội ngày nay)

“Bao giờ tiên lãng chia đôi

Sông hầu nối lại thì tôi lại về”

Dòng sông hầu chia đôi huyện Tiên Lãng (Hai Phòng) nay đã có chiếc cầu Pháp nối đôi bờ để nhân dân về quê Trạng và qua lại thuận tiện hơn.

Trạng trình cũng dự báo đất nước ta vốn là địa linh nhân kiệt, người tài chẳng đời nào thiếu, khắp nơi cùng chốn đâu cũng là tài nguyên phong phú.

“Nước Nam thường có nhân tài

Sơn hà vãng địa mấy ai rõ ràng

Kia nhị thuỷ, nọ đảo sơn

Bãi ngọc đất nổi, âu vàng trời cho”

Đảo sơn, có thể ở đây là khu du lịch Vũng Tàu – Côn Đảo ngày nay, khu vực chứa những tiềm năng to lớn về dầu khí, một vị trí kinh tế – xã hội chiến lược, một khu du lịch thu hút nhiều khách tham quan.

“Hồng lam ngũ bách niên thiên hạ

Hưng tộ diên trường ức vạn xuân“

Có nghĩa đất nước Hồng Lam này, sau ta 500 năm sẽ đến thời kỳ hưng thịnh, quốc tài, dân an hàng trăm nghìn năm. Điều này đã được trải nghiệm khi đó, năm 1991, kỷ niệm ngày sinh 500 năm ngày sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm đất nước ta đang thực hiện thắng lợi từng bước sự nghiệm công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá, đã thu được nhiều thành tựu đáng kể …

Sử gia triều Nguyễn là Phan Huy Chú có phê một câu rất hay về Trạng Tình “ông rong chơi nhàn nhã 40 năm mà không ngày nào quên đời”.

Trong thời đại nền kinh tế tri thức, thời đại của kỹ thuật số và bản đồ gen hôm nay, trước những thành tựu chúng ta đã đạt được, trước những vận hội mới của dân tộc, đọc lại, nghiền ngẫm lại những giá trị văn học cổ truyền: Cách nay đã hơn 500 năm càng làm cho chúng ta suy ngẫm, học tập được những gì của người xưa, giá trị của những gì đã qua và đặt ra cho chúng ta câu hỏi:

- Cần làm gì và làm như thế nào đối với những cơ hội mới, những thách thức mới và đặt ra cho chúng ta những nhận thức đối với các vấn đề xã hội.

Nguồn:

http://thpt-nguyenbinhkhiem-daklak.edu.vn/Gi%E1%BB%9Bithi%E1%BB%87u/Danhnh %C3%A2nNguy%E1%BB%85nB%E1%BB%89nhKhi%C3%AAm/tabid/71/Default.aspx 

Nguyễn Bỉnh Khiêm và các câu sấm rất kỳ lạ của ông?

               Nguyễn Chí Mẫn, 75 tuổi, Trúc Phê, Hưng Hoá, Tam Nông, Phú Thọ

Nguyễn Bỉnh Khiêm huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, người làng Trình Tuyền (Trung An), huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng. Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc trẻ học Lương Đắc Bằng được truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” từ đó ông tinh thông về Lý học, Tướng số học giỏi, nghiên cứu về lý số với thiên tài “thần thông” có khả năng siêu quần, quán chúng về thấu thị, thần giao cách cảm, ông biết nhà Lê Trung Hưng, nên chờ đúng số mệnh năm 44 tuổi dự thi đỗ Giải Nguyên, đời nhà Mạc (1527-1592), làm quan được 8 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần. Năm 1542 ông cáo quan về vườn, lập Bạch Vân am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang còn có tên Tuyết giang nên học trò gọi ông “Tuyết giang Phu tử". Dù Nguyễn Bỉnh Khiên không còn làm quan, nhưng vua Mạc Phúc Hải phong cho ông tước Trình Nguyên Hầu vào năm Giáp Thìn (1544), sau đó được thăng chức Thượng Thư Bộ Lại, tước hiệu Trình Quốc Công. Từ đó người đời gọi ông là Trạng Trình, tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Trạng Trình mất ngày 28 tháng 11 năm Ât Dậu, niên hiệu Diên Thành thứ 8 nhà Mạc (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Trước khi chết, Trạng có ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng: 

-Bình sinh ta có tấm bia đá sẵn và đã sơn kia. Khi ta mất rồi, hễ hạ quan tài xuống phải để tấm bia đá ấy lên nắp rồi lấp đất. Chờ khi nào có khách tới viếng mộ và nói rằng: "Thánh nhân mắt mù" thì phải lập tức mời người ấy vào nhà, yêu cầu họ đổi hướng lại ngôi mộ cho ta. Nếu trái lời ta, dòng dõi về sau  sẽ suy đồi lụn bại đấy. Con cháu nghe lời, làm y như đã dặn. Nhưng chờ mãi đến năm mươi năm sau, mới có người khách đến nhìn mộ cụ một lúc rồi nói:  “Cái huyệt ở đằng chân sờ sờ thế kia mà không biết, lại tự đem để mả thế này. Vậy mà thánh nhân gì chớ, hoạ chăng là thánh nhân mắt mù”. Người trong họ nghe được, chạy về báo với trưởng tộc. Ông này vội vàng ra đón người khách Tầu kia về nhà, xin để xoay ngôi mộ kia lại. Ra đó là một nhà phong thuỷ trứ danh ở phương Bắc. Ông ta sang là để đi tìm xem di tích của Trạng, bấy lâu ông ta đã nghe tiếng đồn.  Khi nghe vị trưởng tộc nói, ông ta sẵn lòng làm ngay, và tự đắc cho rằng mình giỏi hơn Trạng Trình. Ông ta bảo: Không cần phải đem đi đâu xa cả, chỉ đào lên rồi xoay lại, nhích đi một chút là được. Ông trưởng tộc bèn tụ họp con cháu lại, đưa thầy địa lý Tầu ra đổi lại ngôi mộ. Lúc đào đến tấm bia đá, ông ta làm lạ bảo đem rửa sạch xem những gì trên đó. Khi tấm bia được rửa sạch, mới thấy mấy câu thơ hiện ra, tạm dịch nghĩa: 

Ngày nay mạch lộn xuống chân

Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu.

Biết gì những kẻ sinh sau?

Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ? 

Đọc tới đâu vị khách Tầu đổ mồ hôi hột đến đó, ra Trạng Trình mà ông ta nghe đồn là giỏi thật.      

Năm Minh Mạng (1791-1840) năm thứ 14, Nguyễn Công Trứ được vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương, Nguyễn Công Trứ thấy địa thế cần phải đào con sông, đào sông thì phải phá đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông ra lệnh cho dân phu phá đền để khai phá công trường. Khi sai người đào mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải điều. Nguyễn Công Trứ lau sạch đọc được các câu đã ghi: 

Minh Mạng thập tứ

Thằng Trứ phá đền

Phá đền phải làm đền

Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay 

Nguyễn Công Trứ lập tức thảo sớ về kinh, xin bãi bỏ lệnh phá đền. Ông còn cho người sửa sang lại đền Trạng khang trang hơn. Từ đó, ông không còn nghĩ đến việc phá đền để đào sông nữa.  

Thơ văn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lại hơn 100 bài trong bộ Bạch Vân Thi Tập, được dịch ra chữ quốc ngữ thơ mang nặng tình người, khuyên người đời biết điều nhân nghĩa, ngoài ra còn một số giai thoại truyền tụng trong nhân gian… và những lời sấm ký có giá trị.   

1/  Ứng nghiệm về sau nhà Lê khôi phục

2/ Ứng nghiệm nhà Trịnh giữ nhà Lê

Tài tiên tri của Trạng Trình

                                   Bùi Duy Tân ( 7/9/2009 10:36:12 AM

Văn nghệ (Số 19 - 9/5/2009) có bài: Nguyễn Bỉnh Khiêm – Hồ Chí Minh tiên tri chiến thắng Điện Biên Phủ của Lê Cường. Tài tiên tri của Bác sẽ bàn đến trong một dịp khác. ở đây, chủ yếu đi vào tài tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) thường gọi là Trạng Trình. 

Tài tiên tri là tài biết trước, tài ấy được thể hiện thành lời thơ, lời văn mà người xưa gọi là sấm ngôn, sấm ngữ, rồi sấm ký, sấm thư v.v… Các loại từ điển Hán ngữ thường có nghĩa chung: Sấm là khéo bày đặt ra ẩn ngữ để dự đoán tốt xấu (Sấm giả quỷ vi ẩn ngữ dự quyết cát hung). Sấm thường xuất hiện khi xã hội có nhiều biến cố, con người có kỳ vọng đổi đời. Đầu thời tự chủ, Thiền sư, Đạo sĩ, nho gia, vua quan… nói chung là trí thức phong kiến đặt ra lời sấm báo trước sự thay đổi triều đại, chẳng hạn: Đỗ Thích thí Đinh Đinh. Lê gia xuất thánh minh: Đỗ thích giết cha con vua Đinh. Nhà Lê xuất hiện đấng thánh minh. Hoặc : Hòa đao mộc lạc. Thập bát tử thành: Triều Lê (hòa, đao, mộc ghép lại thành chữ Lê) gục đổ. Triều Lý (thập, bát tử ghép lại thành chữ Lý) thành công. Thời khởi nghĩa Lam Sơn có câu: Lê lợi vi quân. Nguyễn Trãi vi thần: Lê Lợi là vua. Nguyễn Trãi là bề tôi. Từ thế kỷ XVI về sau, xã hội nhiều biến động, việc tìm hiểu hậu vận, đoán trước tương lai là nhu cầu phổ biến, đáp ứng nhu cầu ấy, sấm xuất hiện ngày càng nhiều, phần lớn là sấm tiếng Việt. Những câu sấm do nhiều tác giả khác nhau đặt ra ở các thời điểm khác nhau, dần dần được người đời sưu tập thành sách, gọi là sấm Trạng, tức sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người mà truyền thuyết cho rằng thấu hiểu mọi việc ở trần gian, truyện ngày xưa và truyện mai sau. Sấm Trạng hiện còn một số tập: Trình Quốc Công sấm ký, Trình Tiên sinh quốc ngữ, Trình quốc công ký v.v… Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà Lý học, nổi tiếng về tài tiên tri. Nhưng xưa nay, tài tiên tri ấy thường được hiểu qua mấy lần ông mách nước cho Mạc, Trịnh, Nguyễn chứ không qua một câu chữ sấm Nôm nào. Trong gần ngàn bài thơ văn Hán Nôm của ông còn lưu lại, thấy có một số quan niệm triết lý, không có sấm Nôm kiểu sấm Trạng. Đến 170 năm sau, Vũ Khâm Lân viết phả ký về Trạng có khẳng định: “Xét thấy ông là người khôi ngô, anh tuấn, học hết các kinh sách, lại rất tinh về lý thuyết Kinh Dịch, phàm việc mưa nắng lụt hạn, họa phúc, điềm dữ điềm lành, cơ suy cơ thịnh v.v.. việc gì ông cũng biết trước” nhưng cũng không ghi được một câu sấm Nôm nào. Các tập sấm ký Nôm để lại thường viết theo thể thơ dân tộc, hoặc có khi xen vào những câu chữ, thể thơ khác lạ, trộn lẫn Hán Nôm, vần luật hay bị sai lạc, có lẽ do sao đi chép lại nhiều lần, giống như những ghi chép thơ ca truyền miệng dân dã. Tất cả đều do người đời bày đặt, rồi mượn tên Trạng cho có uy danh, chứ đâu phải Trạng đặt ra. Xưa nay, nghiên cứu về sấm Trạng, thường coi đó là những dự đoán, dự báo, chứ ít ai quyết đoán như Lê Cường: “Thế kỷ XVI. Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm lưu lại cho các thế hệ tập Sấm ký (248 câu), tiên tri suốt chiều dài hơn 500 năm luận về các sự kiện, nhân vật lịch sử, hiện tượng xã hội… sẽ ứng nghiệm với non sông đất Việt… Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhiều tiên tri nhấn đậm chính xác”. Quá tin vào sự chính xác của lời sấm tiên tri, nên gặp câu:

 Đầu thu gà gáy xôn xao

Trăng xưa sáng tỏ soi vào Thăng Long

Lê Cường cho rằng: “Trạng Trình tiên tri Cách mạng tháng Tám (1945) thành công”. Sấm ngữ vốn có tính chất thần bí. Lời sấm thường là lời nói bí hiểm (ẩn ngữ), bóng gió, mập mờ, phiếm định… Người ta thường tìm sự liên hệ từ lời sấm xem có mã nào liên quan đến sự xuất hiện của nhân vật và biến cố lịch sử để giải thích bằng những lời lẽ võ đoán, tùy tiện, Đến câu sau đây thì Lê Cường cho là Trạng Trình biết trước sự xuất hiện của Võ Nguyên Giáp:

Đầu can võ tướng ra binh

ắt là thiên hạ thái bình âu ca

“Đầu can chính là chữ Giáp, vừa đúng năm Giáp Thân (1944) và là tên của Võ tướng Giáp, khớp với nhân vật và thời gian thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân”. “Trạng Trình đã tiên tri sứ mệnh Võ Nguyên Giáp” Câu sấm chỉ được giải mã sau khi đã xuất hiện Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhiều học giả cho rằng hầu hết sấm ngữ đều được đặt ra hoặc đoán ra sau khi đã xuất hiện sự kiện, nhân vật lịch sử hữu quan. Như vậy thì tài tiên tri của Trạng có còn giá trị, tác dụng? Những câu Sấm Trạng mà Lê Cường cho là Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên tri chiến thắng Điện Biên Phủ:

Cửu cửu càn khôn dĩ định

Thanh minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo dương đầu mã vĩ

Hồ binh bát vạn nhập Tràng An

bằng nhận xét: “Trước năm 1954, nhiều học giả từng luận giải câu tiên tri trên nhưng chưa khớp sự kiện và sai. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhận thức khai mở diễn trình thời gian, nhân vật… được giải trình theo đúng câu thơ, tiên tri sáng tỏ và trở thành chứng nghiệm lịch sử”. Và: “Điện Biên Phủ toàn thắng sau 55 ngày đêm diễn ra ác liệt, nằm trọn trong tháng 3 âm lịch (thanh minh thời tiết) thật phù hợp xác thực câu tiên tri của Trạng Trình (thời cụ gọi người nước ngoài là Hoa Lang)”. Vẫn là suy đoán khiên cưỡng, khác với cách tiếp cận của Nguyễn Phúc Giác Hải, của Phạm Đan Quế. Câu sấm trong sách đúng là đã lưu hành từ lâu, trước cả chiến thắng Điện Biên Phủ. Nhưng trước đó có ai qua lời sấm đoán được sẽ có chiến thắng Điện Biên Phủ? Câu sấm chỉ tỏ ra “ứng nghiệm” khi chiến thắng Điện Biên Phủ đã diễn ra, “Quân đội Cụ Hồ vào tiếp quản Thủ đô” theo khẳng định của Lê Cường. Rồi thêm vào đó là cụ thể hóa tháng 3 âm lịch vốn phiếm chỉ, cùng với từ: Hoa Lang (chỉ thực dân Pháp) rất chi là ngẫu nhiên, kỳ lạ!

Sấm tuy có tính chất thần bí, thể hiện phần nào sinh hoạt tâm linh của thời đại, song cũng có khi là tư liệu phản ánh nhận thức, quan điểm, nguyện ước của dân chúng về thời cuộc và vận mệnh đất nước. Có điều nên coi sấm là những tư liệu dự báo do người xưa để lại. Tìm hiểu sấm ký cần thận trọng về tư liệu văn bản và tránh suy diễn chủ quan, thao tác gò ép, áp đặt khiên cưỡng.

                                                             Tháng 5 năm 2009

Cùng chuyên mục

Bình luận (0)

Bạn phải đăng nhập để viết bình luận cho bài viết này
back to top