Những người quay về từ kí ức…

  • 7113
  • 2
  • 2


 

 

   Khu phố nhỏ xanh những cây gần chợ ấy tôi đã lang thang qua không biết bao nhiêu lần, đeo trên vai một chiếc ba lô đầy những cuộn giấy nhằng nhịt những vết chì xam xám, còn tay cầm cây bút đen, thêm một tờ giấy khác được kẹp gọn gàng lên một chiếc bìa cứng. Tôi vẽ những ngôi nhà ngói đỏ với bậu cửa sổ đầy những chậu xương rồng đang nở hoa trắng muốt, tôi vẽ hiên nhà ai rụng đầy những cánh ti-gôn tím mỏng manh, hững hờ trước bầu trời xanh thăm thẳm, tôi vẽ những chùm thiên lý xanh lơ rung rinh, khẽ ẩn khẽ hiện trong tàn lá, tôi vẽ chiều buông lả lơi những vệt màu đồng trên mấy búp ngọc lan trắng xóa thơm ngát.

   Tôi vẽ linh hồn mình đang đuổi theo những gam màu loang loáng hư ảo.

   Chợt một tiếng gọi chợt vang lên ngay phía sau tôi, kéo tôi ra khỏi giấc mơ, một tiếng gọi khàn khàn, vẳng lên từ một miền kí ức xa xôi thân thuộc. Đó là một bà lão ngoài lục tuần, gương mặt vương đầy những nếp nhăn của gió sương và tuổi tác, mái tóc bạc được búi vội vã, và đôi mắt đã mờ nheo nheo nhìn về phía tôi. Đôi môi mỏng và nứt nẻ của bà lộ ra một nụ cười hiền hòa :

   - Bà đoán là con mà, nhìn cái dáng y hệt hồi bé ! – Nụ cười ấy, giọng nói ấy lặng lẽ quay về từ khoảng trời tưởng chừng đã chìm vào quên lãng. Tôi khẽ đứng lặng. Bà, là bà đấy ư ? Người hàng xóm mà lâu lắm rồi tôi chưa gặp lại, người hàng xóm mà tôi vẫn coi như bà nội của mình, người hàng xóm với đôi mắt sáng tinh anh, mái tóc đen dài và khuôn mặt tràn đầy sức sống đấy ư ? Thời gian đã làm gì bà thế này ?

   Tôi lặng lẽ ngồi xuống cạnh bà và rổ na vương vất mùi nhựa. Na xanh, na mỡ màng, na tỏa một mùi hương ngọt lịm, và na trăm mắt. Trăm con mắt ấy như xoáy vào tôi, như buộc tội, như trách cứ về một quãng vô tình.

   - Cả tháng nay rảnh, bà cứ ra đây ngồi bán kiếm chút tiền. – Bà lấy đôi tay ram ráp sờ má tôi, véo nhẹ - Chao ôi, con trông xinh ra đáo để kìa, có người yêu là cái chắc rồi nhỉ ?

    Tôi lắc đầu trong im lặng, lòng vẫn sững sờ. Cả tháng nay, ngày nào bà cũng ngồi đây, còn tôi thì lang thang quẩn quanh, vẽ mấy bức tranh ngai ngái mùi rau, tanh mùi cá và đậm đà vị thịt của khu chợ, vậy mà tôi không nhìn thấy bà sao, hay đúng hơn, tôi chẳng nhìn thấy ai cả, chẳng hề để tâm đến những con người vẫn ngày ngày ngồi đây, trên vỉa hè đầy bụi phủ trong làn lá vàng úa này ư ?

   Bà cười, dúi vào tay tôi một quả na dai được gói vội trong tờ báo :

   - Coi như chút quà cho con. Mấy lần cứ thấy con đi qua, chưa kịp gọi thì con biến mất tiêu rồi, cứ thoắt ẩn thoắt hiện như ma ấy. Đi đâu mà nhanh thế hở con ? – Bà xoa đầu tôi, y như cái cách bà hay làm hồi tôi còn là một đứa trẻ.

   - Con vẽ linh tinh ấy mà… – Tôi cười gượng gạo, chìa cho bà xem bức tranh đang vẽ dở nguệch ngoạc những vết chì nham nhở, một bức tranh về ngôi nhà với bờ rào đầy những bông hoàng lan vàng ươm như nắng. Mắt bà mở to đầy ngạc nhiên, lộ rõ những vết chân chim mỏi mệt.

   - Nhà bà đây mà ! – Bà nói đầy kinh ngạc và vui mừng, rồi xuýt xoa khen ngợi – Con vẽ đẹp thật, bao giờ vẽ xong cho bà xin về làm kỉ niệm nhé ! – Mũi tôi cay cay, và những nét chì tự bao giờ đã trở nên xám xịt và lạnh ngắt. Tôi thở dài. Hóa ra, thứ tôi vẫn tưởng như là dành cả tâm hồn mình để vẽ, tưởng như chỉ là một căn nhà thoáng qua trong tâm trí như bao căn nhà khác lại thân quen đến thế, và những chủ nhân tưởng chừng xa lạ lại là những người hàng xóm mà tôi đã sống cùng cả một thời thơ ấu.

   - Chắc chắn rồi ạ. – Nụ cười đã biến mất khỏi gương mặt tôi, nhưng bà thì không chú ý đến điều đó, vẫn ngắm nghía mãi bức tranh dang dở. Tôi quyết định chuyển đề tài – Dạo này bà có khỏe không, ông vẫn hay đọc báo hả bà ?

   Rồi khuôn mặt hao gầy, với hai đôi má hóp lại và cánh tay đầy những vết đồi mồi ông chẳng mấy chốc ùa về sâu trong trí nhớ tôi. Ngày xưa, tất cả chúng tôi cùng ở trên tầng cao nhất của một khu tập thể chật, hẹp, nghèo, đông đúc và cũ nát, những mảng tường thì hoặc nứt, hoặc bong hết cả vữa lẫn ve sơn. Tôi vẫn nhớ cái hương vị đặc trưng của một chiều thu, trong màn sương mù ảm đạm, khi mà mùi than tổ ong khét lẹt, mùi xào nấu mằn mặn, cay cay, rồi mùi nước bồ kết, nước rau mùi gội đầu lẫn vào nhau, hòa vào làn khói lam chiều in lên nền trời đùng đục. Nhưng hồi ấy vui lắm, ông lão hàng xóm mỗi lần đi qua lại ngồi xổm xuống ngay trước cửa, vỗ tay đôm đốp với em trai tôi mà cười đùa, lộ rõ cả hàm răng đen đã móm mém “Bắt được con chim này !” làm thằng bé cứ ôm đũng quần chạy quanh nhà cười khanh khách, rồi sau ấy mới quay sang bàn luận với bố tôi tình hình thời sự mà ông vừa đọc lóm được ở sạp báo hoặc nghe mấy bà hàng nước nói chuyện, về mấy cơn bão vẫn loanh quanh ngoài khơi đã cướp đi vài mạng sống và mấy con tàu của người dân miền biển quê tôi, về giá vàng hôm nay lại nhảy vọt thêm một chút, về việc ông được tăng lương hưu hơn một tẹo, cứ từ trên trời dưới xuống đến dưới đất mà ồn ã, mà râm ran. Rồi thi thoảng, ông lại mua đĩa hoạt hình “Tom và Jerry” cho hai đứa cháu, và cứ như thế, kiểu gì ông cũng túm cẳng em trai tôi mà bế nó sang, rồi nghe chúng nó chí chóe, trêu đùa ầm ầm trên sàn lát gạch, khiến một bác gái phía dưới đang xem ti vi phải chạy lên mắng xối xả.

   Cuộc sống cứ thanh bình và êm ả trôi qua như thế, cho đến một ngày, ông bà được cấp đất theo chế độ của thương binh, đồ đạc được đưa về một nơi sáng sủa rộng rãi, còn căn nhà được chuyển cho một bác ở thuê. Qua năm sau, nhà tôi cũng chuyển đi nốt, khu tập thể giờ đã lạ hoắc và trơ trọi.

   Nghe tôi hỏi, bà chép miệng, phẩy tay :

   - Thì đã mấy năm qua còn gì, già rồi, có phải là tiên đâu mà khỏe mãi được hả con ?  - Bà sắp lại mấy quả na cho ngay ngắn trên rổ - Ông giờ cũng yếu lắm rồi, mắt chẳng đọc được gì nữa, đọc chỉ thêm mỏi thôi. Giờ ông suốt ngày luẩn quẩn trong góc nhà, cứ đi ra, đi vào, đi lên, rồi lại đi xuống, nấu cơm đun nước thôi… - Tôi nghe thấy bà cất lên một tiếng thở dài khe khẽ. Đến giờ, tôi còn nhớ đến ông trong hình ảnh của một người tổ trưởng dân phố mẫu mực, đi vận động quyên góp, đi họp hành, việc to bé lớn nhỏ ông đều nhiệt tình làm cả, và mỗi ngày ông phải đi quanh cả thị trấn này một vòng thì mới chịu được. Thế mà có bao giờ tôi thấy ông kêu ốm đâu, vẫn cứ khỏe, và mọi người bao giờ cũng thấy mái đầu trắng đội mũ tuýt của ông bước đi phăm phăm không cần gậy ở tuổi ngót nghét bảy mươi. Vậy mà, giờ đây… Thời gian đã làm gì ông thế này ?

    Bà khẽ ngâm nga một đoạn nhạc Đỏ, vẫn thường vang lên ở mấy cái loa phát thanh, nhưng giọng bà đã khàn lắm, như một cái radio cũ kĩ bụi bặm gió sương cất lâu ngày trên gác xép, và trong thoáng chốc, cảm giác hụt hẫng ấy đã khiến tôi sợ, sợ rằng giọng nói ngọt ngào trầm ấm ngày xưa ấy lại là của một người khác, và một nỗi sợ còn lớn hơn thế, nỗi sợ về một ngày xưa sẽ biến mất như thể nó là của một người khác. Mà có lẽ vậy thật, một khoảng trời rộng lớn mang tên kí ức đã trở thành vật sở hữu riêng của một tôi-bé, một tôi trẻ con, một tôi ngây thơ, khờ dại, một tôi yêu đời và nhìn cuộc sống bằng con mắt trong veo. Còn giờ đây, tôi-bé năm nào đã biến thành một tôi-lớn hay quên, một tôi-lớn buồn bã trong những nỗi mênh mang trống trải, chỉ biết hướng đôi mắt khao khát về miền kí ức đã phai mờ…

   Bà vẫn hát, giọng hát không ngọt, không cao, mà lại mang theo một chút gì đó lạ lắm, không phải là âm điệu của những bản nhạc rộn ràng và hùng tráng thuở xưa, nó nhẹ nhàng, nó day dứt, tưởng như bà đang thổi, đang gieo một linh hồn mới vào những ca từ đã đi dài theo năm tháng.

   - Vậy mấy đứa nhóc thế nào rồi hả bà ? – Tôi chống cằm, quệt quệt cây bút chì hờ hững lên vỉa hè, in lên cả những chiếc lá.

   Ông bà có ba người con và bốn đứa cháu, toàn con gái cả, mỗi đứa lại một tính, một nết. Đứa lớn nhất bằng tuổi tôi, chúng tôi học chung với nhau suốt những năm cấp I, nhưng lại chẳng thân bao giờ, có thể là vì không hợp, con bé hiền và có duyên lắm. Đứa thứ hai bé hơn chúng tôi vài ba năm là con cô thứ, cả hai đều sống với cha mẹ ở con phố cách khu tập thể của chúng tôi hàng cây số, và một tuần, có chăng cũng chỉ lên đôi lần. Chỉ có mỗi cô út ở cùng bố mẹ, cô sinh đôi liền lúc hai em bé, bằng tuổi em trai tôi. Thi thoảng lắm tôi mới thấy gương mặt cô chú thoáng lướt qua trước cửa, rồi lại vội vã biến mất. Dân buôn bán mà, ai cũng vậy, cũng đầu tắt mặt tối với hàng, với chợ, với tiền nong, với cơm gạo, để lại hai đứa trẻ cứ thui thủi chơi với nhau, hay đôi lúc là chơi với lũ trẻ con trong khu. Chúng giống nhau như hai giọt nước, đến cả nét mặt trơ khấc và vô cảm cũng vậy…

   Nét mặt bà thoáng trở nên buồn bã, đôi mắt mờ mờ hoe đỏ, và giọng hát ngân nga khi nãy đã nghèn nghẹn. Rồi bà úp mặt vào hai cánh tay mà khóc :

   - Nhắc đến làm gì, chán lắm con ơi… Cái đứa thứ hai, nó đã bao nhiêu tuổi đâu, thậm chí mới sang đến trường cấp III được một năm thôi… – Bà ngước lên nhìn tôi, ánh nhìn đầy đau khổ và tuyệt vọng – Chừng ấy tuổi, ăn chưa no, lo chưa tới, một mình mình còn chưa chắc đã nuôi nổi mà đã có thai. Mà cái thai lớn lắm rồi, chẳng phá được, không hiểu con bé nghĩ gì khi tới tháng thứ sáu vẫn còn định giấu… Rồi khi mọi chuyện vỡ lẽ, thì bà mới biết rằng cái thai là của một trong những thằng thanh niên chơi với chị nó, cái con lớn ấy…

   Đôi vai bà run lên bần bật, hằn lên bóng cây dáng hình thu lu và khắc khổ. Tôi ngập ngừng, rồi ôm lấy bà đầy xót xa. Ở đời, có biết bao chuyện ngang trái và đớn đau như thế ? Có biết bao nhiêu những đứa bé còn chưa đến tuổi trưởng thành, chưa thể chịu trách nhiệm với xã hội phải cố gắng gượng chống đỡ lấy một tương lai nặng nề vì một vài phút giây bồng bột của tuổi trẻ ? Kể, thì làm sao mà hết cho được…

   Nước mắt bà thấm đầy vai áo tôi, những giọt nước mắt phiền muộn của cả một đời. Tôi muốn an ủi bà, muốn lau nước mắt trên gương mặt già nua ấy, nhưng nghĩ lại, có mấy khi bà được trút hết những tâm sự của những ngày xế bóng, có ai để bà nói, có ai lắng nghe bà ? Vậy thì cứ khóc đi, khóc nữa đi, bà ơi, khóc cho trôi những vệt đất lấm trên đất lạnh…

   - Còn hai đứa sinh đôi, chúng hư lắm con ạ. Vẫn ở với ông bà đấy thôi, mà một ngày thấy được mặt nó mấy lần, vì chúng cứ đi chơi nọ kia suốt. Họa hoằn lắm mới ăn với nhau được một bữa cơm, rồi có hôm chúng dẫn theo cả con trai về nhà, cũng tại cái dáng nhà nó, mới có lớp 9 mà đã giống lớp 12, Đại học rồi. Hai cô chú thì đã gần một năm bà không thấy mặt, chúng cứ đi đào vàng, đào bạc ở cái đất đồng không mông quạnh nảo nào ấy, chứ có ở nhà mà dạy, mà dỗ con cái đâu ? Bà với ông đã già lắm rồi, chẳng thể nào hiểu mà tâm sự được với lũ trẻ bây giờ…

   Tôi cứ lặng câm mà vỗ về sống lưng bà, chứ biết nói gì đây ? Mỗi thời mỗi khác, nhưng bao giờ cũng thế, người lớn chẳng thể hiểu nổi hết trẻ con, vì cũng là một lẽ tất nhiên cả thôi, càng hiện đại, thì cái khoảng cách giữa hai thế hệ càng trở nên mênh mông vô tận. Huống chi, ông bà còn hơn ba đứa trẻ ấy đến nửa già thế kỉ, mái tóc đã bạc phơ sương gió của cả một đời. Hai đứa em sinh đôi của tôi khi xưa, dù đứng trước người lớn chúng có trở nên gan lì vì mặc cảm, nhưng khi chơi cùng lũ trẻ con, chúng vẫn cười, vẫn hò hét, vẫn đuổi nhau từ đầu đến cuối con đường, chui vào tận những ngách hẻm nhất mà ú òa; em gái kém tôi mấy tuổi khi xưa, dẫu chẳng phải giỏi nhất nhì lớp gì cả, nhưng hễ khi nào rảnh là nó lại hăng hái đi tưới cây, quét đường hộ những cô chú sống tầng dưới; và bạn tôi khi xưa, với khuôn mặt hiền hiền và nụ cười nhè nhẹ, đôi mắt mơ màng như một cô thiếu nữ thôn quê. Đâu rồi những trong sáng, những hồn nhiên trên gương mặt thơ dại?

    Thời gian đã làm gì các em tôi thế này ?

   Tôi nhớ về ngày xưa, về những ngày mà chúng tôi còn sống chung trên tầng năm chật hẹp, nghèo thật, nhưng đông đúc lắm, vui lắm, còn hai tâm hồn già nua cô quạnh cứ ngày ngày ngóng trông con cháu, héo mòn và quắt lại trong sự cô đơn, buồn tủi. Ông bà côi cút trong chính cái vô tâm vô lo nghĩ của những thế hệ đi sau, khi mà sự sống đang mong manh như ngọn đèn trước gió, cứ đong đưa, đong đưa mãi theo một nhịp điệu lặng câm, thất thường, tựa những chiếc lá vàng khô xác vụn vỡ từ sâu trong tàn lá xanh mướt trên cao.

   Chiều vàng cô quạnh trong không trung.  Bà ngừng khóc, lấy đôi tay chai sạn dụi dụi đôi mắt híp hiền từ. Rồi bà đứng dậy, và lặng lẽ thu đám túi nilon gọn gàng vào cái làn đỏ, đội chiếc nón lá cũ đã sứt chỉ lên đầu, và mỉm cười chào tôi :

   - Bà về đây, con ạ, có lẽ giờ này thì còn ai đi mua nữa. Nhớ hôm nào rảnh thì tặng bà bức tranh, con nhé… - Nụ cười của bà sao mà gượng gạo, và ánh mắt mông lung vô định, chất chứa bao phiền muộn mà đến tuổi xế chiều cũng chưa dứt.

   Bà quay về, ngược nắng với ánh hoàng hôn đỏ, bóng đen dài của bà in lên nền đường, nhỏ nhoi, đơn độc, và bà bước đi, bỏ tôi lại với tờ giấy trắng đến nhức nhối đầy những vệt chì rối rắm và loằng ngoằng. Những bông hoàng lan vàng đang nở tung còn đang dang dở, mấy chiếc lá bỏng xanh mỡ màng sát gốc quanh, bao quanh là những mảnh lá vàng giòn, tất cả như quấn lấy tôi trong những vệt màu loang lổ.

   Tôi bật dậy, vo tròn tờ giấy và ném thẳng nó vào thùng rác. Tôi chạy theo bóng đen gần khuất nơi góc đường với những bông ti-gôn tím rải đầy.

   - Bà ơi, để con về nhà bà, rồi vẽ luôn tặng bà nhé ! Nhân tiện con thăm ông nữa, lâu lắm rồi…

   Lâu lắm rồi…

   Bà mỉm cười.

   Tôi mỉm cười.

   Hoàng hôn mỉm cười.

 

Thông báo

52labai.com

Chính sách riêng tư