Mạng xã hội Tamtay.vn

Niềm vui trong tầm tay

luuchuong_gl1957

luuchuong_gl1957

Danh hiệu Blogger

Bài viết 1030

Được dõi theo 9

Bài dự thi tìm hiểu 80 năm công đoàn Việt nam

19/04/2013| 38004 Xem| 2 Bình luận| 0 Thích

 

BÀI  DỰ THI TÌM HIỂU

CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM 80 NĂM - MỘT CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ

                                                                Thí sinh:

                                                          Chủ tịch CĐBP Văn phòng

    Công văn số 129/TLĐ ngày 05/02/2009 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về Phát động thi đua lập thành tích chào mừng các ngày lễ và kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Công đoàn VN.

    Nội dung câu hỏi cuộc thi “Tìm hiểu Công đoàn Việt Nam , 80 năm – một chặng đường lịch sử:

1. Tổ chức Công đoàn Việt Nam được thành lập vào ngày tháng năm nào? Do ai sáng lập?

2. Từ khi thành lập đến nay Công đoàn Việt Nam đã trải qua mấy kỳ đại hội? Mục tiêu, ý nghĩa của các kỳ đại hội?

3. Đại hội nào được đánh giá là Đại hội đổi mới? Theo đồng chí, quan điểm “đổi mới” đó được phát triển như thế nào ở Đại hội X Công đoàn Việt Nam ?

4. Đồng chí hãy nêu quan điểm của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước?

5. Đồng chí hãy cho biết chiến lược xây dựng giai cấp công nhân của tổ chức Công đoàn trong giai đoạn hiện nay? Liên hệ thực tiễn tại Công đoàn cơ sở nơi đồng chí sinh hoạt, công tác?

6. Đồng chí hãy viết một bài khoảng 1.500 từ cống hiến ý tưởng hay, có ý nghĩa thực tiễn cho hoạt động Công đoàn hoặc những kỷ niệm sâu sắc trong hoạt động Công đoàn?

7. Theo đồng chí, có bao nhiêu người tham gia cuộc thi này ?


Câu 1: Đồng chí hãy cho biết, tổ chức công đoàn Việt Nam được thành lập vào ngày, tháng, năm nào, do ai sáng lập?

Trả lời: Đại hội V Công đoàn Việt Nam (2/1983) đã quyết định lấy ngày 28/7/1929, ngày thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ làm ngày truyền thống của Công đoàn Việt Nam . Qúa trình hình thành và ra đời tổ chức công đoàn Việt Nam gắn liền với tên tuổi và cuộc đời hoạt động của đồng chí Nguyễn Aí Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) - lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam . Những năm tháng hoạt động trong phong trào công nhân và Công đoàn quốc tế, Bác đã nghiên cứu hình thức tổ chức công đoàn ở các nước Tư bản, thuộc địa và nửa thuộc địa. Từ đó rút ra kinh nghiệm thực tiễn, đặt cơ sở lý luận và hình thức tổ chức cho Công đoàn Việt Nam .

      Trong tác phẩm "Đường Kách mệnh", Bác viết: "Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có tình cảm, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới.

      Có thể nói, trên bước đường đi tới chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập tổ chức cộng sản ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Aí Quốc đã quan tâm rất sớm đến tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân. Qúa trình người chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự thành lập một chính Đảng vô sản cũng là quá trình Người xây dựng cơ sở lý luận và biện pháp tổ chức Công đoàn cách mạng.

      Từ năm 1925 đến năm 1928, nhiều công hội bí mật đã hình thành do sự hoạt động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đặc biệt từ năm 1928, khi kỳ bộ Bắc kỳ của Việt Nam Cách mạng Thanh niên đồng chí Hội chủ trương thực hiện "Vô sản hoá" thì phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam ngày càng sôi nổi, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức công hội lên một bước mới cả về hình thức lẫn nội dung hoạt động.

      Năm 1929 là thời điểm phong trào công nhân và hoạt động công hội ở nước ta phát triển sôi nổi nhất, đặc biệt là ở miền Bắc. Các cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra liên tục ở nhiều xí nghiệp, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất hành động giữa các cuộc đấu tranh ở xí nghiệp này với xí nghiệp khác trong cùng một địa phương và giữa địa phương này với địa phương khác trong toàn xứ.

      Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và tổ chức công hội đòi hỏi phải có một tổ chức Mác xít, một Đảng thực sự cách mạng của giai cấp công nhân có khả năng tập hợp, lãnh đạo công nhân đấu trang giành độc lập tự do. Tháng 3 năm 1929, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hà Nội. Tiếp đến, ngày 17/6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời. Đông Dương Cộng sản Đảng giao cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Uỷ viên lâm thời phụ trách công tác công vận của Đảng triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929 tại nhà số 15 phố Hàng Nón, Hà Nội. Đại hội bầu đồng chí Nguyễn Đức Cảnh là người đứng đầu Ban chấp hành lâm thời Tổng công hội đỏ Bắc Kỳ.

      Sự kiện thành lập Tổng công hội đỏ miền Bắc Việt Nam là một mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam, lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn; hoạt động có tôn chỉ, mục đích, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo công nhân lao động. Chính vì ý nghĩa đó, theo đề nghị của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định lấy ngày 28/7/1929 là ngày truyền thống của Công đoàn Việt Nam.

Câu hỏi 2: Đồng chí hãy cho biết từ khi thành lập đến nay, Công đoàn Việt Nam đã trải qua mấy kỳ Đại hội? Mục tiêu, ý nghĩa của các kỳ đại hội?

Trả lời: Từ khi thành lập đến nay, Công đoàn Việt Nam đã trải qua 10 kỳ Đại hội.

      Mỗi đại hội đều gắn với một thời kỳ lịch sử, ghi nhận sự đóng góp xứng đáng của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam đối với đất nước.

Đại hội lần thứ I: 01/1/1950-15/1/1950 tại xã Cao Vân, huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.(Việt Bắc)

Đại hội lần thứ  II: 23/2/1961-27/2/1961 tại Hà Nội.

Đại hội lần thứ  III: 11/2/1974-14/2/1974 tại Hà Nội

Đại hội lần thứ IV: 8/5/1978-11/5/1978 tại Hà Nội.

Đại hội lần thứ V: 16/11/1983- 18/11/1983 tại Hà Nội

Đại hội lần thứ VI: 17/10/1988-20/10/1988 tại Hà Nội

Đại hội lần thứ VII: 9/11/1993-12/11/1993 tại Hà Nội.

Đại hội lần thứ  VIII: 03/11/1998 đến 6/11/1998 tại Hà Nội.

Đại hội lần thứ  IX: 10/10/2003-13/10/2003 tại Hà Nội.

Đại hội lần thứ  X: 02/11/2008- 05/11/2008 tại Hà Nội.

 
     
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ I đã họp từ ngày 1 đến ngày 15/1/1950 tại xã Cao Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, chiến khu Việt Bắc. Tham dự có gần 200 đại biểu của giai cấp công nhân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Đại Hội, trong thư Người nêu rõ “những việc chính mà Đại hội cần làm là:

- Tổ chức huấn luyện toàn thể công nhân trong vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm.

- Lãnh đạo công nhân xung phong thi đua ái quốc và chuẩn bị tổng phản công.

- Đi đến tổ chức toàn thể lao động bằng đầu óc cũng như lao động bằng chân tay.

- Giúp đỡ và lãnh đạo nông dân về mọi mặt.

- Liên lạc mật thiết với công nhân thế giới, trước hết là với công nhân Trung Hoa và công nhân Pháp.

Trong công việc kháng chiến và kiến quốc, trong sự nghiệp xây dựng nền dân chủ mới, giai cấp công nhân phải là người lãnh đạo”.

Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá mục tiêu chính trị của Đại hội là: “Công đoàn Việt Nam chiến đấu cho độc lập dân chủ và hoà bình

      Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam gồm 21 uỷ viên chính thức, 4 dự khuyết, trong đó đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch danh dự; đồng chí Hoàng Quốc Việt, Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu làm Tổng thư ký. Ban Thường vụ Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam gồm có 5 đồng chí: Trần Danh Tuyên, Nguyễn Hữu Mai, Hoàng Hữu Đôn, Nguyễn Duy Tính và Trần Quốc Thảo.

+Mục tiêu của Đại hội là: "Động viên công nhân viên chức cả nước, nhất là công nhân ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ cho kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi".

+Ý nghĩa: Sự kiện Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ nhất tháng tháng 1 năm 1950 đánh dấu bước trưởng thành to lớn của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam. Những văn kiện được Đại hội thông qua là sự vận dụng đúng đắn, cụ thể và sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, là điều kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn hoàn thành những nhiệm vụ mới của cuộc kháng chiến và mở ra một thời kỳ mới của công tác Công đoàn ở Việt Nam. Đại hội đã giải quyết những vấn đề lớn trong thống nhất nhận thức và hành động, sửa đổi Điều lệ Công đoàn, bầu cử chính thức Ban chấp hành. Đại hội lấy việc thi đua ái quốc làm trọng tâm công tác.

      Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II đã họp từ ngày 23 đến ngày 27/2/1961 tại trường Thương nghiệp, Thủ đô Hà Nội. Tham dự có 752 đại biểu. Đại hội đề ra nhiệm vụ trong giai đoạn này là: ”Đoàn kết, tổ chức giáo dục toàn thể công nhân viên chức phát huy khí thế làm chủ của quần chúng, làm cho quần chúng mau chóng nắm đựơc kỹ thuật tiên tiến để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trước mắt là thi đua hoàn thành thắng lợi toàn diện và vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc”.

      Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam đã quyết định đổi tên Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thành Tổng Công đoàn Việt Nam, bầu Ban Chấp hành gồm 54 đồng chí, Đoàn Chủ tịch gồm 19 đồng chí. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu làm Tổng thư ký.

+Mục tiêu của Đại hội là: Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi đua lao động sản xuất, xây dựng CNXH ở miền Bắc, với tinh thần "Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt” góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà.

Ý nghĩa: Lần đầu tiên trong lịch sử, Đại hội Công đoàn Việt Nam họp ở Thủ đô Hà Nội, trong bầu không khí hòa bình. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử, Đại hội Công đoàn Việt Nam có các đoàn đại biểu quốc tế được mời và Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự. Đại hội đổi tên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thành Tổng Công đoàn Việt Nam . Đại hội là cuộc sinh hoạt chính trị quan trọng của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn nhằm đư đường lối của Đảng vào quần chúng công nhân viên chức. Những vấn đề mà Đại hội quyết định là những vấn đề quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta.

      Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ III đã họp từ ngày 11 đến ngày 14/2/1974 tại hội trường Ba Đình Thủ đô Hà Nội. Về dự có 600 đại biểu thay mặt cho hơn 1 triệu đoàn viên Công đoàn trong cả nước.

      Nhiệm vụ chung đã được Đại hội xác định là: ”Nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là tư tưởng làm tập thể, ý thức làm chủ xã hội, làm chủ Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ tập thể của công nhân, viên chức, động viên phong trào sôi nổi trong công nhân, viên chức thi đua lao động, sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, tham gia quản lý xí nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước, thực hiên ba cuộc cách mạng; thường xuyên nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, làm tròn nghĩa vụ đối với miền Nam ruột thịt; ra sức tăng cường đoàn kết chiến đấu và lao động với nhân dân Lào và Campuchia anh em; tiếp tục phấn đấu cho sự đoàn kết, thống nhất của lao động và phong trào Công nhân thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, cầm đầu là đế quốc Mỹ, chống bọn tư bản lũng đoạn, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”

      Đại hội đã bầu 72 Uỷ viên chính thức, Đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Phó Chủ tịch, kiêm Tổng thư ký.

Mục tiêu Đại hội là: "Động viên sức người, sức của chi viện cho chiến trường, tất cả để giải phóng miền Nam , thống nhất đất nước".

Ý nghĩa: Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam được tiến hành trong lúc ở nước ta cũng như ở trên khắp năm châu đang diễn ra những chuyển biến lớn lao có lợi cho phong trào cách mạng của nhân dân các nước.

      Đại hội là một sự kiện trọng đại trong đời sống chính trị của đất nước. Đại hội tiêu biểu cho ý chí của hàng triệu người lao động làm chủ tập thể quyết tâm biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất và chiến đấu thời kỳ chống Mỹ cứu nước thanh phong trào sôi nổi thi đua lao động, sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩ xã hội ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

       Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ IV đã họp từ ngày 8 đến ngày 11/5/1978 tại hội trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Về dự có 926 đại biểu thay mặt cho hơn 2 triệu đoàn viên công đoàn thuộc 39 Liên hiệp Công đoàn địa phương, 18 công đoàn ngành Trung ương trong cả nước.

      Đại hội đã xác định nhiệm vụ của Công đoàn trong nhiệm kỳ mới là: “Bồi dưỡng năng lực và phát huy quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của công nhân, viên chức, dấy lên phong trào cách mạng rộng lớn thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp xây dựng kinh tế quốc phòng, thường xuyên nâng cao tinh thần cách mạng, sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng; cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; tích cực hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam; thi đua lao động, sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, thi đua phục vụ nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà, trước mắt là hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976- 1980), chăm lo đời sống và bảo vệ lợi ích chính đáng của công nhân, viên chức; ra sức đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Công đoàn; cải tiến tổ chức và phương pháp công tác nâng cao năng lực hoạt động, năng lực tham gia quản lý kinh tế, tham gia vào công việc của Nhà nước và kiểm tra hoạt động của Nhà nước; góp phần tăng cường đoàn kết và thống nhất của phong trào công nhân và của lao động thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới và các thế lực phản động khác, vì quyền lợi của người lao động, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, và chủ nghĩa xã hội”

      Đại hội đã bầu BCH mới gồm 155 Uỷ viên. Đ/c Nguyễn Văn Linh, UV Bộ Chính trị Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam . Đ/c Nguyễn Đức Thuận làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.

Mục tiêu đại hội là: "Động viên giai cấp công nhân và những người lao động khác thi đua lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá trong cả nước".
Ý nghĩa: là đại hội phát huy quyền làm chủ tập thể và ý chí tự lực, tự cường của những người lao động chân tay và lao động trí óc đang hăng say lao động, tiến công nhằm xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc.

      Đại hội công đoàn là hình ảnh đẹp đẽ của đội ngũ giai cấp công nhân thống nhất, của tổ chức công đoàn thống nhất, trong nước Việt Nam thống nhất, thành quả của ngót nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta.
Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mở đầu một phong trào cách mạng mới có sức lôi cuốn đông đảo công nhân viên chức và quần chúng nhân dân trên khắp mọi miền Tổ quốc hăng hái làm việc, thi đua lao động sản xuất và công tác.
     
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ V tiến hành từ ngày 16 đến ngày 18/11/1983 tại Hội trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Về dự có 949 đại biểu thay mặt cho gần 4 triệu đoàn viên công đoàn trong cả nước.

      Đại hội khẳng định: “Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chung của công đoàn cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà Đại hội lần thứ tư  Công đoàn Việt Nam đề ra”

      Đại hội đã sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công đoàn Việt Nam , làm rõ hơn tính chất của công đoàn Việt Nam , mối quan hệ giữa công đoàn với các đoàn thể khác. Đồng thời bổ sung nhiệm vụ quốc tế đối với các nước bạn Lào, Campuchia. Đại hội đã quyết định lấy ngày 28/7/1929 ngày họp Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ miền Bắc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương làm ngày kỷ niệm thành lập Công đoàn Việt Nam .

      Đại hội đã bầu BCH gồm 155 Uỷ viên. Ban Thư ký gồm 13 uỷ viên. Đ/c Nguyễn Đức Thuận Uỷ viên BCH Trung ương Đảng làm Chủ tịch. Đ/c Phạm Thế Duyệt làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng Công đoàn Việt Nam .

Mục tiêu của Đại hội là: "Động viên công nhân lao động thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng. Phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu".

Ý nghĩa: Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đất nước đang đứng trước một thời kỳ cách mạng sôi động. Đảng ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang gánh vác một sứ mệnh trọng đại, xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là đại hội hành động của công nhân, viên chức cả nước phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, dấy lên các phong trào cách mạng rộng lớn nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế xã hội tổng quát trong những năm 80 của thế kỷ XX.

      Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VI họp từ ngày 17 đến ngày 20/10/1988 tại Hội trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Về dự có 834 đại biểu thay mặt cho gần 4 triệu đoàn viên Công đoàn trong cả nước.

      Đại hội đã đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam , Công đoàn Tỉnh, Huyện đổi thành Liên đoàn Lao động. Các chức danh thư ký Công đoàn gọi là Chủ tịch Công đoàn.

      Đại hội đã xác định khẩu hiệu “Việc làm và đời sống, dân chủ và công bằng xã hội” là mục tiêu trong hoạt động của công đoàn các cấp. Công đoàn phải động viên công nhân, lao động đi đầu trong việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời kiên quyết đấu tranh thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội.

      Đại hội VI Công đoàn Việt Nam là đại hội đổi mới của phong trào công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam .

      Đại hội đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Tư làm chủ tịch, các đồng chí Cù Thị Hậu, Dương Xuân An được bầu làm Phó chủ tịch.

Mục tiêu của Đại hội là: "Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì "việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội".

Ý nghĩa: Đây là đại hội đầu tiên của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam kể từ khi cả nước bước vào thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội lần thứ VI của Đảng khởi xướng. Đại hội đã diễn ra thật sự dân chủ và công khai theo tinh thần đổi mới của Đảng. "Đại hội đã nêu được ý chí của giai cấp công nhân Việt Nam trước vận hội mới, thời cơ mới của Đất nước... Đại hội đã ghi một dấu ấn tốt đẹp trong lịch sử Công đoàn Việt Nam và mở ra một giai đoạn phấn đấu mới, vẻ vang của công đoàn Việt Nam .

      Đại hội đánh dấu một bước sự đổi mới trong tổ chức và hoạt động của Công đoàn nhằm động viên công nhân lao động cả nước phấn đấu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam . Đại hội kêu gọi anh chị em công nhân, lao động và đoàn viên, cán bộ công đoàn hãy phát huy truyền thống và bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, biến Nghị quyết Đại hội thành hành động thiết thực, biến khẩu hiệu việc làm và đời sống, dân chủ và công bằng xã hội thành sức mạnh vật chất.

      Đại hội Công đoànViệt Nam lần thứ VII họp từ ngày 09 đến ngày 12/11/1993 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Về dự có 610 đại biểu thay mặt cho gần 3 triệu đoàn viên Công đoàn thuộc 53 LĐLĐ địa phương, 23 Công đoàn ngành Trung ương trong cả nước.

      Năm 1992, Quốc hội khoá VII kỳ họp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Điều 10 Hiến pháp 1992 quy định rõ về vai trò, vị trí của tổ chức Công đoàn Việt Nam .

     Đại hội đánh giá cao phong trào công nhân, viên chức lao động trong tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, phục vụ an ninh và quốc phòng, các cơ quan quản lý, nghiên cứu khoa học trong các trường học, bệnh viện, các đơn vị hành chính sự nghiệp, đã góp phần xứng đáng vào những thành tựu chung của đất nước, tô thắm thêm truyền thống yêu nước và cách mạng của giai cấp công nhân và tầng lớp tri thức Việt Nam.

      Nghị quyết Đại hội VII Công đoàn Việt Nam khẳng định “Trong bước ngoặt đầy thử thách, giai cấp công nhân nước ta đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, vượt qua mọi khó khăn trong bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường, hăng hái đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh của đất nước, giữ vững ổn định về chính trị”.

      Đại hội đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Tư làm chủ tịch, các đồng chí Cù Thị Hậu, Hoàng Minh Chúc, Nguyễn An Lương, Hoàng Thị Khánh được bầu làm Phó chủ tịch.
Mục tiêu của Đại hội là: "Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn. góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc, chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân lao động".

Ý nghĩa: Đại hội VII Công đoàn Việt Nam diễn ra trong tình hình Đất nước có nhiều thay đổi lớn. Đại hội đặt ra một vấn đề rất cơ bản là xây dựng, phát triển giai cấp công nhân về số lượng, nhất là nâng cao về chất lượng; nắm vững và cụ thể hoá cương lĩnh, chiến lược kinh tế xã hội và các Nghị quyết của Đảng, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII họp từ ngày 03 đến ngày 06/11/1998 tại Cung văn hoá Lao động Hữu nghị Việt-Xô, thủ đô Hà Nội. Về dự có 898 đại biểu thay mặt cho gần 4 triệu đoàn viên Công đoàn thuộc 61 LĐLĐ địa phương, 18 Công đoàn ngành Trung ương trong cả nước.

    Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong đó sự đóng góp xứng đáng của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam…Đội ngũ công nhân, viên chức, lao động đã tỏ rõ hơn bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng và quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, nỗ lực vương lên lao động và công tác…giữ vai trò quyết định thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, xứng đánh là giai cấp lãnh đạo cách mạng, lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

      Đại hội đã bầu đồng chí Cù Thị Hậu làm Chủ tịch, các đồng chí: Nguyễn An Lương, Đặng Ngọc Chiến, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng được bầu làm Phó chủ tịch.

Mục tiêu của Đại hội là: "Vì sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn vững mạnh".

Ý nghĩa: Đại hội có ý nghĩa rất quan trọng, Đại hội động viên giai cấp công nhân Việt Nam phát huy truyền thống cách mạng, khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo, đi tiên phong trong sự nghiệp CNH- HĐH Đất nước. Đại hội là cuộc sinh hoạt chính trị quan trọng của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn nhằm biến những Nghị quyết lịch sử của Đại hội Đảng thành khẩu hiệu phấn đấu hàng ngày của công nhân, viên chức, lao động. Đây là Đại hội chuyển tiếp giữa hai thế kỷ, chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI. Sự thành công của Đại hội tạo ra niềm vui mới, niềm tin mới, động lực mới, sức mạnh mới, khí thế mới, góp phần đưa khẩu hiệu hành động của Đại hội vào cuộc sống, vì sự nghiệp CNH - HĐH Đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Đối với giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn, Đại hội mở ra thời kỳ mới, đánh dấu bước ngoặt của phong trào Công đoàn Việt Nam trong quá trình thực hiện công cuộc CNH - HĐH Đất nước.

      Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IX họp từ ngày 10 đến ngày 13/10/2003 tại Cung văn hoá lao động Hữu nghị Việt - Xô, thủ đô Hà Nội. Về dự Đại hội có 900 đại biểu thay mặt cho 4,25 triệu đoàn viên Công đoàn.

      Căn cứ Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, bám sát tình hình thực tiễn của đất nước, phong trào CNVC-LĐ và các chức năng của công đoàn đã được pháp luật quy định, trên cơ sở tổng kết hoạt động, phân tích rõ những kết quả, những khuyết điểm, yếu kém, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm của những nhiệm kỳ qua, mục tiêu và phương hướng tổng quát của tổ chức công đoàn trong nhiệm kỳ 2003-2008 được xác định như sau: “Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới; củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, rộng khắp, thiết thực và có hiệu quả trong CNVC-LĐ; tham gia quản lý, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ; đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức Công đoàn trong các thành phần kinh tế; nâng cao năng lực và trình độ cán bộ công đoàn ; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”

      Đại hội đã bầu đồng chí Cù Thị Hậu làm Chủ tịch, các đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Nguyễn Hoà Bình, Nguyễn Đình Thắng, Đỗ Đức Ngọ, Đặng Ngọc Chiến được bầu làm Phó Chủ tịch. Tháng 12/2006 đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch, tháng 9/2007 các đồng chí Hoàng Ngọc Thanh, Mai Đức Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Ngàng được bầu làm Phó Chủ tịch.

Mục tiêu Đại hội là: "Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH Đất nước".

Ýnghĩa: Đại hội lần thứ IX Công đoàn Việt Nam là Đại hội đoàn kết, trí tụê, dân chủ, đổi mới, thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân và cán bộ, đoàn viên Công đoàn cả nước. Đại hội diễn ra vào những năm đầu thế kỷ XXI và Thiên niên kỷ mới, giữa lúc chúng ta đang tiến hành tổng kết nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng. Đại hội quyết định mục tiêu, phương hướng hành động của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2003 - 2008.

      Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ X họp từ ngày 02 đến ngày 05/11/2008 tại Cung văn hoá Hữu Nghị Việt Xô, thủ đô Hà Nội với gần 1.000 đại biểu tham dự.

      Mục tiêu và phương hướng tổng quát của hoạt động công đoàn trong 5 năm (2008-2013) là: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn các cấp; hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, công nhân, viên chức lao động làm đối tượng vận động; chuyển mạnh hoạt động công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước”

      Đồng chí Đặng Ngọc Tùng (Ủy viên Trung ương Đảng) tái đắc cử Chủ tịch và các đồng chí Nguyễn Hoà Bình, Hoàng Ngọc Thanh, Mai Đức Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Ngàng tái đắc cử Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nhiệm kỳ 2008 - 2013.

Mục tiêu của Đại hội: "Đổi mới, sáng tạo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động, vì sự phát triển ổn định, bền vững của Đất nước".

Ý nghĩa: Đại hội X Công đoàn Việt Nam thể hiện ý chí quyết tâm, năng động, sáng tạo của đông đảo CNVCLĐ, đoàn viên và các cấp Công đoàn cả nước, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm đổi mới toàn diện và mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động của Công đoàn, góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Câu hỏi 3: Đồng chí hãy cho biết Đại hội nào được đánh giá là Đại hội đổi mới? Theo đồng chí quan điểm "Đổi mới" đó được phát triển như thế nào ở Đại hội X Công đoàn Việt Nam ?

Trả lời:

* Trong các kỳ Đại hội, Đại hội VI Công đoàn Việt Nam được đánh giá là Đại hội đổi mới, tạo ra bước ngoặt lịch sử cho tổ chức Công đoàn Việt Nam, là tiền đề đưa phong trào công nhân viên chức lao động và hoạt động Công đoàn cả nước sang một thời kỳ mới dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam.
* Kể từ Đại hội VI Công đoàn Việt Nam đến nay quan điểm đổi mới luôn được kế thừa và phát huy có hiệu quả biểu hiện chung nhất là việc quan tâm xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, thông qua nội dung các mục tiêu và khẩu hiệu hành động từ các kỳ Đại hội:

- Mục tiêu Đại hội VI Công đoàn Việt Nam : Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì: "Việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội".

- Mục tiêu Đại hội VII Công đoàn Việt Nam : " Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc, chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân lao động".

- Mục tiêu Đại hội VIII Công đoàn Việt Nam :" Vì sự nghiệp CNH - HĐH Đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh".

- Mục tiêu Đại hội IX Công đoàn Việt Nam: "Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".

- Mục tiêu Đại hội X Công đoàn Việt Nam : "Đổi mới, sáng tạo; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, công nhân viên chức lao động; vì sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước". Đồng thời, xác định "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn các cấp; hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, CNVCLĐ làm đối tượng vận động; chuyển mạnh hoạt động công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ; xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước".

      Quan điểm đổi mới được phát triển ở đại hội X Công đoàn Việt Nam đó là:        Trong điều kiện đất nước ta hội nhập sâu với thế giới, như Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Vì vậy mục tiêu, phương hướng, các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu của Công đoàn trong giai đoạn này được xác định là:

1- Đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động.

2- Tuyên truyền, giáo dục công nhân, viên chức, lao động góp phần xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh. Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Tổng Liên đoàn thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3- Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, viên chức, lao động.

4- Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn và đội ngũ cán bộ công đoàn.

Câu hỏi 4: Đồng chí hãy nêu quan điêm của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".

Trả lời: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong, lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu của giai cấp công nhân, ngay từ ngày đầu thành lập Đảng đã xác định: "Đảng là đội tiên phong của vô sản, giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình; phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được quần chúng" (Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 2, tr 4). Qua từng giai đoạn cách mạng, quan điểm của Đảng ta về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân, về xây dựng, phát triển giai cấp công nhân ngày càng được bổ sung, hoàn thiện.

      Trong suốt quá trình lãnh đạo, đấu tranh giành chính quyền, Đảng ta luôn coi giai cấp công nhân là lực lượng nòng cốt, lãnh đạo cách mạng và đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm tập hợp, xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, thực sự phát huy được vai trò tiên phong trong cách mạng, góp phần đưa sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước đi đến thắng lợi.

      Khi nước nhà thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân tiếp tục được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Đại hội IV của Đảng xác định: xây dựng giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, xứng đáng với vai trò giai cấp tiên phong, lãnh đạo cách mạnh là nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức rõ ý nghĩa quan trọng của vấn đề xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (năm 1986) chỉ rõ: "Đảng cần có những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ hiểu biết về mọi mặt để xứng đáng với vị trí giai cấp tiên phong của cách mạng, đồng thời chăm lo đời sống vật chất và văn hoá, tạo ra những điều kiện cần thiết để giai cấp công nhân hoàn thành xứ mệnh lịch xử của mình" (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, Tr 115).

      Hội nghị Trung ương 7 khoá VII khẳng định: "Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời là trách nhiệm của mỗi người, mỗi tập thể công nhân" (Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Hà Nội, 1994, tr 98). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định và phát triển tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996).

      Bước vào thế kỷ XXI, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tư duy của Đảng về giai cấp công nhân ngày càng phát triển và hoàn thiện. Tại Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta khẳng định: "Đối với giai cấp công nhân, coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao, giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện "trí thức hoá công nhân", nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới..." (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 124 - 125).

      Bước vào thời kỳ đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Năm quan điểm của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 6 xuyên suốt cả về nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh trong thời kỳ mới, Đó là:

      1-Kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Ðảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

      Đây là quan điểm đầu tiên quan trọng nhất đề cao vai trò, sứ mênh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay và các thời kỳ cách mạng sau này. Nhận thức sâu sắc, đầy đủ quan điểm này của Đảng về giai cấp công nhân vừa là một yêu cầu bức thiết, vừa là tình cảm, trách nhiệm của toàn Đảng và xã hội không chỉ đối với giai cấp công nhân, mà còn đối với sự nghiệp phát triển đất nước, đặc biệt trong cơ chế thi trường và sự phát triển không ngừng của các loại hình doanh nghiệp, của các thành phần kinh tế chi phối và ảnh hưởng nhiều đến giai cấp công nhân, từ quan điểm lớn này, Nghị quyết TW 6 nêu ra những quan điểm chỉ đạo quan trọng còn lại, cần được nhận thức đúng, đó là:

      2- Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức mạnh của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng, của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực chủ yếu của sự phát triển đất nước, đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp công nhân trên toàn thế giới.

      3- Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân.

      4- Ðào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng trí thức hóa giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược. Ðặc biệt quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, trở thành bộ phận nòng cốt của giai cấp công nhân.

      5- Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vuơn lên của bản thân mỗi người công nhân, sự tham gia đóng góp tích cực của người sử dụng lao động; trong đó, sự lãnh đạo của Ðảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm lo xây dựng giai cấp công nhân. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng tổ chức công đoàn, Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh.

Câu hỏi 5: Đồng chí hãy cho biết chiến lược xây dựng giai cấp công nhân của tổ chức Công đoàn trong giai đoạn hiện nay? Liên hệ thực tiễn tại CĐCS nơi đồng chí sinh hoạt, công tác?

Trả lời: Ngay sau khi có Nghị quyết số 20/NQ-TƯ, Hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành chương trình hành động số 399/Ctr-TLĐ ngày 7/3/2008. Mục tiêu tổng quát của chương trình là:

1- Nâng cao nhận thức của cán bộ, đoàn viên, công nhân viên chức, lao động cả nước về vị trí, vai trò to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

2- Góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức khoẻ của công nhân; nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, trình độ học vần, chuyên môn nghề nghiệp cho công nhân; xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh.

3- Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; nâng cao tinh thần trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân của tổ chức công đoàn.

Chương trình xác định chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2013 là:

1- Tham gia cùng với cơ quan quản lý nhà nước phấn đấu đến năm 2013, có 70% trở lên công nhân qua đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp; giảm 80% số vụ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; 65% trở lên số công nhân được tham giai bảo hiểm xã hội.
2- Hàng năm có 100% cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước tổ chức hội nghị cán bộ, công chức; hơn 90% doanh nghiệp nhà nước tổ chức đại hội công nhân, viên chức; trên 50% số công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn tổ chức hội nghị người lao động.

3- Trong năm (2008-2013), kết nạp mới ít nhất 1,5 triệu đoàn viên. Đến năm 2013 có 70% số doanh nghiệp đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam thành lập được công đoàn cơ sở và tập hợp được từ 60% trở lên công nhân, viên chức, lao động trong doanh nghiệp ra nhập công đoàn.

4- Hàng năm có trên 80% công đoàn cơ sở ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và 40% công đoàn cơ sở ở khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt tiêu chuẩn "công đoàn cơ sở vững mạnh:, có 10% đạt tiêu chuẩn "công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc".

5- Giới thiệu mỗi năm ít nhất 30.000 công nhân ưu tú để Đảng bồi dưỡng, xem xét, kết nạp vào Đảng (Chỉ tiêu này đến Đại hội X Công đoàn Việt Nam xác định là 90.000).

Chương trình đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp:

1. Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Chủ động và tham gia giải quyết có hiệu quả những bức xúc của công nhân.

3. Đẩy mạnh phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, góp phần xây dựng giai cấp công nhân, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

4. Vận động công nhân tham gia các phong trào thi đua yêu nước góp phần phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh.

5. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp công nhân và hoạt động công đoàn. Đặc biệt, năm 2009, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đang nghiên cứu xây dựng đề án chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam (2011-2020).

Câu 6: Đồng chí hãy viết một bài khoảng 1.500 từ cống hiến ý tưởng hay, có ý nghĩa thực tiễn cho hoạt động Công đoàn hoặc những kỷ niệm sâu sắc trong hoạt động Công đoàn?

Trả lời:

      Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh là một vấn đề cơ bản và cấp bách, có ý nghĩa quan trọng sống còn đối với Đảng và chế độ ta. Bởi vậy, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gần đây Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ra Nghị quyết “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" (Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28-1-2008). Thực tiễn đòi hỏi phải có chiến lược xây dựng giai cấp công nhân, làm cho giai cấp công nhân thực sự là lực lượng hàng đầu trong quá trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân cần được hoạch định trên cơ sở nhận thức đầy đủ điều kiện, môi trường công nhân lao động sản xuất và sinh sống. Trước hết là sự phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam , thể hiện ở trình độ, tính chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế còn có khoảng cách khá xa giữa định hướng xã hội chủ nghĩa ghi trong đường lối của Đảng với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội. Hiện nay, sự phát triển kinh tế làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội: số cuộc đình công của công nhân, số lượng nông dân mất đất và việc làm tăng, tiềm năng của đội ngũ trí thức chưa được phát huy, những yếu kém trong giáo dục đào tạo, trong nghiên cứu, triển khai vẫn chưa được giải quyết; môi trường bị ô nhiễm. Hạn chế này cần được xem xét và cân nhắc vì nó có ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân. Nền kinh tế nước ta đang phát triển theo số lượng vốn đầu tư trong và ngoài nước, nhưng giai đoạn tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ chuyển sang phát triển theo chiều sâu, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, công nghiệp hóa, hiện đại hoá đem lại lợi ích cho quốc gia dân tộc nhưng cũng mang lại quyền, lợi ích thiết thực cho công nhân và hoàn thiện quan hệ lao động trong doanh nghiệp. Liên quan đến công nghiệp, công nhân, vấn đề an sinh xã hội ở nông thôn, đô thị và gia đình của công nhân đang phải đối mặt với vấn nạn về đời sống, việc làm, vấn đề dinh dưỡng cho lao động. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp, ngoài tác động tích cực có thể còn gây ra những hậu quả về môi trường. Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, nếu không có biện pháp phòng chống và sớm khắc phục hậu quả sẽ làm cho Việt Nam từ một nước xuất khẩu lương thực sẽ chuyển thành nước nhập khẩu lương thực, trong khi dân số tăng dần lên, tạo ra nguy cơ đói nghèo phổ biến. Điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến công nhân, lao động. Để bảo đảm mục tiêu trong đường lối xây dựng giai cấp công nhân của Đảng, đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Từ năm 2001, đường lối Đại hội IX của Đảng đã xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Định hướng xây dựng nhà nước đó là đúng đắn. Tuy nhiên, công tác xây dựng nhà nước chưa có sự tiến bộ rõ rệt, vấn đề cải cách hành chính được thực hiện nhưng vấn nạn quan liêu, tham nhũng chưa giảm. Thực trạng đó cản trở mối liên hệ giữa các cấp chính quyền, giữa doanh nghiệp với nhân dân, việc thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch theo đòi hỏi của hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này gây khó khăn cho việc nắm bắt, giải quyết tâm tư nguyện vọng và sửa đổi bổ sung những bất hợp lí trong chính sách đối với công nhân, lao động. Hoạch định chiến lược xây dựng giai cấp công nhân cần căn cứ vào thực trạng của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Tính đến đầu năm 2007, tổng số công nhân nước ta có khoảng 9,5 triệu người (chiếm tỷ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội), làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Số công nhân trong các doanh nghiệp tăng 30,5% so với năm 2003; trong đó, công nhân doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 63%, công nhân doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 68%, công nhân doanh nghiệp nhà nước giảm 15%. Công nhân đang tăng nhanh trong một số ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế như điện lực, dầu khí, điện tử, tin học, viễn thông...và ở một số ngành sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu như dệt may, giày da, chế biến thủy sản.... Đội ngũ công nhân, lao động ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành nghề, với trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp được nâng lên đáng kể. Đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức (có trình độ cao đẳng, đại học trở lên) làm công tác quản lý sản xuất kinh doanh, nghiên cứu và quản lý khoa học kỹ thuật gắn với sản xuất kinh doanh hoặc trực tiếp sản xuất. Hàng chục vạn cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, công nhân bậc cao và thợ giỏi đã năng động, sáng tạo, có nhiều sáng kiến có giá trị cao được áp dụng. Giai cấp công nhân đã đóng góp trực tiếp, to lớn vào sự nghiệp phát triển của đất nước, đưa nền kinh tế vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện. Tuy vậy, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân xuất thân từ nông dân chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống. Giai cấp công nhân còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp. Một bộ phận công nhân chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội. Thực trạng giai cấp công nhân đòi hỏi cần tiếp tục nâng cao về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Hoạch định chiến lược xây dựng giai cấp công nhân cần nắm vững xu hướng phát triển của giai cấp công nhân. Theo dự báo từ nay đến năm 2020, giai cấp công nhân sẽ có nhiều chuyển biến trên nhiều mặt. Cụ thể là:

1/ Giai cấp công nhân Việt Nam sẽ phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, gắn liền với trẻ hóa, tri thức hóa công nhân.

2/ Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất và đóng góp chủ yếu vào tổng thu nhập quốc dân ở nước ta.

3/ Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng phát triển đa dạng, phức tạp và biến động mạnh về cơ cấu.

4/ Xu hướng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng mang tính quốc tế và tính hiện đại.

5/ Xu hướng công nhân Việt Nam sẽ thay đổi nghề nghiệp nhiều lần, sự di chuyển và biến động công nhân giữa các ngành nghề, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế sẽ diễn ra thường xuyên.

6/ Phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội trong giai cấp công nhân Việt Nam tiếp tục diễn ra sâu sắc và nhiều vấn đề liên quan đến giai cấp công nhân sẽ còn diễn biến phức tạp.

7/ Giác ngộ chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam sẽ được nâng lên, nhưng sẽ có phân hóa mạnh, đồng thời cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng của giai cấp công nhân với các hệ tư tưởng khác diễn ra ngày càng quyết liệt ngay trong nội bộ giai cấp công nhân.

      Vấn đề quan trọng cần đặc biệt quan tâm khi hoạch định chiến lược xây dựng giai cấp công nhân là nội dung chiến lược xây dựng giai cấp công nhân đến năm 2020; theo chúng tôi cần căn cứ vào các định hướng chủ yếu sau đây:

      Một là, xây dựng giai cấp công nhân phù hợp với những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế thị trường thế giới và đòi hỏi của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam . Những chuyển biến sâu sắc trong kinh tế thị trường hiện đại sẽ trực tiếp tác động đến mô hình phát triển của Việt Nam , từ đó tác động đến giai cấp công nhân. Trong giai đoạn này, Việt Nam phải chủ động, tự giác để tự đánh giá đúng sự phát triển của quốc gia và vị thế nước ta trong các nấc thang phát triển của thế giới.

      Hai là, phát huy chủ nghĩa yêu nước đi đôi với nâng cao cơ sở kỹ thuật sản xuất, trình độ tay nghề để tạo ra chất lượng của sự phát triển giai cấp công nhân. Động lực và chất lượng phát triển là hai nhân tố quyết định tính hiện đại và tính dân tộc của giai cấp công nhân Việt Nam . Trong bối cảnh kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, làn sóng toàn cầu hóa lan tỏa trên tất cả các mặt, người công nhân Việt Nam phải mang bản sắc dân tộc Việt Nam . Vì vậy phải kết hợp giữa tính hiện đại và tính dân tộc trong xây dựng giai cấp công nhân nước ta.

      Ba là, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa giai cấp công nhân với toàn dân tộc. Vị trí, vai trò của giai cấp công nhân được thể hiện ở mối quan hệ giữa giai cấp công nhân với toàn dân tộc. Đây cũng là vấn đề có tính quy luật. Trong kinh tế thị trường, dân tộc hưng thịnh hay suy vong đều có công lao hay trách nhiệm của giai cấp ở vị trí hàng đầu về kinh tế và chính trị và có tác động ngược lại đối với sự lớn mạnh của giai cấp đó.

      Bốn là, nâng cao trách nhiệm và vai trò của giai cấp công nhân trong xây dựng hệ thống chính trị nước ta. Vị trí và vai trò của giai cấp công nhân không những thể hiện ở năng suất lao động không ngừng tăng trong nền kinh tế thị trường, mà còn thể hiện ở ý thức xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đủ sức đưa dân tộc vươn lên trong thế kỷ XXI.

      Hệ thống chính trị nước ta vững mạnh hay không, đất nước có phát triển hay không là nhờ vào sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, bộ phận có trách nhiệm lớn nhất trong xây dựng thể chế chính trị xã hội. Năm là, xây dựng giai cấp công nhân nước ta thành lực lượng sản xuất hiện đại để bảo đảm thực hiện mục tiêu đến năm 2020, nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì vậy, xây dựng giai cấp công nhân phát triển cao về chất lượng trở thành nhiệm vụ chủ yếu của Đảng và Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội. Tổ chức Công đoàn cũng qua thực hiện mục tiêu này mà đổi mới và phát triển. Chỉ có sớm trở thành lực lượng sản xuất hiện đại thì công nhân mới đạt được năng suất lao động cao, mới thúc đẩy sự vận dụng phương thức quản lý tiên tiến. Qua đó, công nhân tăng thêm thu nhập, có điều kiện cải thiện đời sống vật chất và văn hóa, đặc biệt là sự phát triển cá nhân. Khi giai cấp công nhân trở thành lực lượng sản xuất hiện đại, có năng suất lao động cao sẽ góp phần chủ yếu vào việc thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa về kinh tế. Hoạch định “Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đến năm 2020” là cần thiết và cấp bách nhằm thực hiện Nghị quyết 20/NQ – TW của Đảng. Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là một quá trình liên tục và lâu dài, cần có kế hoạch và bước đi thích hợp, gắn với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nhận thức đúng về vai trò, vị trí của giai cấp công nhân trong tình hình mới, xây dựng và thực hiện các chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cải thiện điều kiện lao động, ăn ở nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, đòi hỏi phải có thời gian và sự phối hợp chặt chẽ, không ngừng của các cấp, các ngành, sự nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của nhiều thế hệ công nhân.

Câu 7: Theo đồng chí, có bao nhiêu người tham gia cuộc thi này ?

Trả lời: Tôi dự đoán có 2.782.679 người tham dự Cuộc thi này./.

 

 

 

Cùng chuyên mục

Bình luận (2)

Bạn phải đăng nhập để viết bình luận cho bài viết này
back to top