Subscribe RSS
 
+84 9888 67619 Chợ ma âm dương làng Ó tái hiện không gian huyền thoại Feb 22

 

Mùa xuân với những lễ hội rộn ràng xứ Kinh Bắc đã tạo nên sức hút đặc biệt với du khách thập phương. Đầu xuân người người xuôi miền Kinh Bắc xem thi pháo làng Đồng Kỵ, ngắm hoa mẫu đơn chùa Phật Tích, tham dự lễ hội đậm chất dân gian giữa lòng thành phố với tục thi nấu cơm nồi đất ở Đọ Xá... Đặc biệt từ mùa xuân Canh Dần 2010 này, những người hiếu kỳ sẽ được tham dự một lễ hội, phiên chợ có một không hai - Chợ Âm Dương làng Ó (tức làng Xuân Ổ, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh) lần đầu tiên được phục dựng sau mấy trăm năm mất dấu. Chợ họp một phiên duy nhất vào đêm ngày mồng 4, rạng sáng ngày mồng 5 tháng Giêng với không gian huyền thoại và ý nghĩa nhân văn sâu sắc mang đậm màu sắc tâm linh, tín ngưỡng người Việt...

 

 

 

 

 

 

 

 

Tìm đến làng Ó những ngày giáp Tết - nơi sẽ diễn ra phiên chợ Âm Dương kỳ lạ, chúng tôi được nghe ông Nguyễn Thanh Tuỵ, thành viên Ban Nghiên cứu lịch sử làng kể “ Theo tài liệu, văn bản lưu trữ của Viện Khảo cổ quốc gia, chợ Âm Dương có từ thời nhà Trần, đến thời hậu Lê thì mai một và đến nhà Nguyễn thì mất hẳn, có nghĩa là dòng Tiêu Tương còn thì vẫn diễn ra hội, khi sông bị vùi lấp thì lễ hội cũng không còn...”.

 

Để cắt nghĩa cho sự ra đời, các hoạt động và việc duy trì chợ Âm Dương xưa kia, ông Tuỵ lý giải “Ngày xưa, khu vực địa phận 2 khu Xuân Ổ A và B ngày nay là nơi giao thương sầm uất nhất vùng Kinh Bắc, gọi là chợ Bến Lái. Theo một công trình thám sát của Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng năm 1970 thì vẫn còn di chỉ khảo cổ và hiện hơn 30 hiện vật còn lưu trữ ở Bảo tàng Bắc Ninh về chợ Bến Lái này. Trước đây mảnh đất Xuân Ổ này là một vùng trũng. Sau một trận quyết chiến của nghĩa quân Hai Bà Trưng, nơi đây la liệt xác chết. Đàn quạ ở đâu đến ở rất nhiều trong các vạt gai, sậy mọc hoang. Làng Ó, tên nôm của Xuân Ổ hôm nay có từ đó, sau này, còn có tên khác là Mai Ô trang hay Mai Ổ trang... Những trận chiến khốc liệt qua đi, có một nữ thương nhân đến xây dựng ngôi chùa (người dân trong vùng vẫn quen gọi là chùa Lái hay Nương Xá tự) để siêu sinh cho các vong linh. Về sau, thân nhân của những người tử trận đã tìm về ngôi chùa để cúng lễ cho người thân. Lễ lạt cần có hàng mã và thế là nghề hàng mã xuất hiện ở làng Ó...”.

 

Trong phiên chợ Ó, cùng với đồ vàng mã, gà đen là con vật có ý nghĩa “mua may bán rủi”. Thường thì người làng Ó mua gà đen về, cắt tiết rồi vẩy tiết và rắc vôi bột hình cánh cung trước cổng nhà để xua đuổi tà ma. Chợ Âm Dương cổ xưa bán vàng mã, gà đen và những đồ cúng lễ đã mang đặc trưng tâm linh sâu sắc nên người mua không mặc cả, bán không cần đếm tiền, họ lặng lẽ trao tiền và hiện vật cho nhau như đã có thoả thuận ngầm...

 

Chợ không đèn, chỉ có lều quán phục vụ trong ánh nến leo lét và thân nhân người chết cúng chiêu sinh cho vong hồn đến làm lễ tại kỳ đài. Một không gian huyền thoại, người Dương hoà nhập với người Âm, không ai nghĩ mình được hay mất gì... Trong những câu chuyện kể về chợ Âm Dương, người ta vẫn truyền tai nhau chuyện chậu nước thử tiền. Chậu nước thử xem tiền cõi dương hay tiền cõi âm được đặt ngay đầu chợ. Và giữa không gian nhuốm màu huyền thoại và đậm đặc chất tâm linh ấy, người ta bảo dù thả tiền vào chậu thử rồi mà vẫn cầm phải tiền ma. Người thì bảo tiền thật mình cầm tối hôm trước sáng sau xem lại thì thấy một đống vỏ hến, người bảo là viên sỏi, mảnh bát, mảnh chai. Người có được những “vật quý” đó không cho mình bị thua thiệt mà trái lại hết sức vui sướng vì tâm niệm rằng đã có duyên làm điều phúc, điều thiện với những người đã khuất. Ai đã từng xem bộ phim “Bao giờ cho đến tháng Mười” của đạo diễn Đặng Nhật Minh hẳn còn nhớ một trường đoạn xúc động được xây dựng trên ý tưởng về chợ Âm Dương, nơi gặp gỡ của đôi vợ chồng trẻ yêu nhau tha thiết mà âm dương cách biệt bởi chiến tranh. Ý nghĩa tâm linh của chợ Âm Dương đã đến với Điện ảnh, một lĩnh vực nghệ thuật mang đậm hơi thở cuộc sống đương đại.

 

Trưởng khu Xuân Ổ A Nguyễn Khắc Vượng tự hào bộc bạch “Đây là lần đầu tiên lễ hội chợ Âm Dương được phục dựng song từ giáp Tết năm Mậu Tý 2008, nhóm phóng viên của một số Đài Truyền hình quốc gia và Đài Bắc Ninh đã phối hợp với địa phương làm phim tài liệu và đã phát trên sóng truyền hình với tên gọi “Mồng 5 Hội Ó”. Kinh nghiệm rút ra từ lần thử nghiệm đó sẽ giúp chúng tôi phục dựng lại lễ hội đậm chất dân gian nhất”. Cũng theo ông Vượng, khi đó chợ Âm Dương được tái hiện với sự tham gia của khoảng 60 người dân địa phương và học sinh trường Trung cấp Văn hoá - Nghệ thuật Bắc Ninh. Thực ra hàng năm nhân dân Xuân Ổ A vẫn tổ chức lễ hội truyền thống đúng vào ngày 4, 5 tháng Giêng Âm lịch song lễ rước lớn thì được tổ chức 3 năm một lần. Đây là năm đầu tiên Chợ Âm Dương với không gian cổ, đặc trưng với hoạt động mua bán gà đen, hát Quan họ và các sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá dân gian trở lại, chắc chắn sẽ là điểm nhấn thu hút đông đảo khách du lịch về với lễ hội độc đáo vùng Kinh Bắc. Chuẩn bị cho lễ hội năm nay, ông Trưởng khu cho biết thêm “Vì không gian diễn ra phiên chợ khá rộng (khoảng 1ha), thời gian tổ chức theo truyền thống là vào nửa đêm về sáng, lại chỉ mập mờ ánh nến nên công tác an ninh trật tự sẽ được địa phương đặc biệt chú ý nhằm đảm bảo tính an toàn, trật tự, tạo sự yên tâm cho du khách. Lễ rước với hàng trăm người cũng được tập dượt chu đáo, địa phương đã giao cho các chị em trong chi hội phụ nữ nuôi 150 con gà đen phục vụ phiên chợ”. Theo như thông tin chúng tôi có được, lễ hội chợ Âm Dương Xuân Canh Dần 2010 có sự tư vấn và phối hợp thực hiện của Công ty TNHH Quảng cáo Đông Nam (Hà Nội). Theo lịch trình và kịch bản, các hoạt động của lễ hội sẽ diễn ra tại khu vực quanh đình, đền, chùa của khu Xuân Ổ A với 6 tiểu khu: Sân khấu chính (dưới gốc đa)-Dân ca Bắc Bộ với Hát Quan họ và Trống quân, biểu diễn nhạc cụ dân tộc; Tiểu khu diễn xướng dân gian-Hát Xẩm và nơi mua bán gà đen; Tiểu khu trò chơi dân gian với các trò nhảy lò cò và ô ăn quan, thi chọi gà, kéo co, bịt mắt đánh trống; Khu tín ngưỡng sẽ tổ chức Lễ cầu siêu; Tại đền thờ với hát lễ thờ, lễ rước và tại nhà riêng các nghệ nhân có hát Quan họ. Ngoài ra, địa phương cũng phân chia các khu bán gà, khu bán vàng hương và khu ẩm thực. Một website đã được trình làng để giới thiệu về phiên chợ độc nhất vô nhị này. Bạn đọc có thể vào mạng ở địa chỉ www.choamduong.com để có những thông tin cụ thể hơn. 

 

Ngày nay, những bậc cao niên trong làng vẫn truyền tai nhau những câu văn xuất phát từ thư tịch và văn bia cổ “Kinh Bắc đô xuân địa/ Dạ xuân thị trung thiên/ Đa nhân-đa sản vật/ Đệ nhất danh thị dã”. Còn người Bắc Ninh-Kinh Bắc vốn đã thuộc nằm lòng mấy câu ca dao “…Mồng bốn là hội kéo co/ Mồng năm hội Ó chẳng cho nhau về…”, chắc chắn sẽ có dịp tìm lại nét xưa trong phiên chợ lung linh, huyền bí - chợ Âm Dương làng Ó.phường võ cường

Có 0 bình luận | 31 Lượt xem
chào xuân canh dần 2010 Feb 06

cám ơn tất cả các bạn và mọi người

đã ghé qua và xem blog của tôi , năm mới chúc tất cả các bạn và mọi người 1 năm mới vui vẻ và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống

Có 0 bình luận | 34 Lượt xem
Ông hàng xóm Oct 03

                                                              Ông hàng xóm



Ngày nào cũng vậy,khi tôi mở cửa hàng thì ông đã nằm lăn ra đầu ngõ nhà mình ở đấy từ bao giờ rồi,trên người ông đầy một thứ mùi riệu lồng lặc,quần thì ướt hết từ trên xuống do đái luôn, mỗi khi như vậy chiếc quần dài ông mặc lại như là cái toalet di động,ông ta đái ỉa luôn như một con người vô thức,

 

Cửa hàng nhà tôi đối diện với ngõ nhà ông,lên mỗi khi tôi mở cửa buổi sáng thì ông ta đã say từ bao giờ rồi,ông nằm xõng xoài giữa ngõ cho dù ai đi thì cứ đi cứ việc mà tránh,vợ con biết thì dìu ông ta về nhà,

Ngày nào cũng vậy không được nửa lít lượng tỉu vào người là ông khó chịu,riệu với ông như một thứ nghiện còn hơn cả thuốc lá,nhiều lần ông kiếm được ở đâu đó bao thuốc lá ,hay những hôm bà vợ mua cho hai gói mỳ tôm ăn sáng,ông chỉ ăn một gói,còn lại một gói ông mang đi đổi lấy ít riệu ,

Nghiện đến mức đã có lần ông bị người ta lừa cho uống cả cốc rấm chua . đó là biết lão nghiện riệu lên người ta  bày trò oái oăm,cứ một ngày mà không được ít riệu là lão khó chịu,lên khi có là lão vục ngay vào uống,không cần biết là gì ? tu một hơi liền một mạch lão phun ra .,và chửi một tiếng   “mẹ đéo phải riệu, mà là rấm,bọn này lừa mình  “rồi lão cười hì hì hề hề , làm bao nhiêu người có mặt ở đó được một phen cười vỡ bụng ..

Trong làng nhà ai mà có đám thì không cần phải mời lão cũng có mặt,lão đến chỉ nhằm vào chỗ làm cỗ và rình rình lấy chộm chai riệu hay túi mỳ chính to gì đó,rồi đút vào trong người rồi chuồn về , mà ở nhà đám thi những thứ đó ai thèm quan tâm ,thế ông mới lấy được , riệu thì về nhà uống , còn mỳ chính thì mang đi đủi lấy riệu …

Những lúc bình thường thì trông ông rất phong độ với bộ quần áo mượn của thằng con trai cả.

Ông có thằng con trai cả nó đang làm ngoài hà nội,mỗi khi nó về ông thường bắt nó mua cho cái này cái nọ,xin tiền nó để mua riệu,được cái thằng con cả nó cũng rất thương ông,

Nhưng chắc nó đâu biết rằng,mỗi khi bố nó xin tiền mẹ nó không được thì bố nó đuổi mẹ nó như chó chạy ngoài đường,bởi nó làm ngoài đó lên cũng chỉ biết mang máng sơ sơ qua chuyện của nhà nó,,,

                                             

trông thì thế thôi nhưng lão lại rất hay có tính ăn cắp vặt đồ đặc của hàng xóm và cả những nhà ở xa,đôi lần thì chẳng ai thèm nói, nhiều người biết nói với vợ ông thì vợ ông cũng than thở rằng thế này thế nọ nhiều người lại bỏ qua không chấp gì ông dở dở hấp, nhưng trong lòng ai cũng biết ông ta hấp hấp ăn người,

Cứ đồ gì ăn cắp được là ông lại bán cho hàng đòng lát,miễn sao kiếm được chút ít tiền mua riệu,ngày nào không kiếm được lại phải ngửa tay ra xin vợ,những ngày đầu bà vợ còn cho sau này xin nhiều bà còn cáu lên :

ngày nào cũng xin: xin gì mà xin lắm thế ?

Ông xin ba câu mà không được,ông ta cũng cáu lên : tức thì túm tóc rằng đòi cho kỳ được mới thôi, có lúc bà thoát được chạy khắp nhà,vừa chạy vừa gọi thằng con út: L ơi cứu mẹ với,có lúc thằng con chạy lại quật bố nó ngã ềnh ra đấy,.

Lão lại chửi hét ầm lên thằng con mất dậy : tao nuôi mày hai mươi mấy năm giờ mày lại dánh cả bố mày à?

Những hôm ông xin tiền mà không có thằng con ở nhà ,mà bà lại có ý không cho thì chỉ còn nước chạy sang nhà hàng xóm hoặc chạy vào quán nhà tôi đóng cửa nhờ ở đó một lúc,có hôm tôi không ở ngoài hàng thì bà chạy ra ngoài đường rồi chạy rẽ vào nhà tôi ẩn trốn luôn,

có hôm tôi đang ở nhà thì bà chạy vào xin cho trốn nhờ,lát sau ông ta cũng chạy xuống theo trong tay năm năm với cả cái  cào đất,lúc đó mà không có Bố Mẹ tôi can ngăn thì không biết chuyên gì sẽ sảy ra với bà vợ,?

Ông ta có một cái đầu có một không hai trong làng,cái đầu của lão chỉ là một thứ để cho tay người bị câm thực hành các kiểu đầu. khi thi cắt chọc lốc , khi thì hình này hình nọ trông đến buồn cười,tất cả đều được tay người câm ấy cắt miễn phí không lấy tiền.lúc nào không đến tay câm ấy cắt tóc thì lão lại tự cắt cho mình ,bằng cánh tay cầm kéo tay cầm gương ,khi xong thì cái đầu của lão nham nhở như một thằng điên,lão cũng biết đã bị nham nhở do chính lão cắt,thế là ông đành phải lấy cái mũ lưỡi trai đội lên,cho dù có đội cái mũ cũng không che hết được phần gáy lơm nhơm lởm chởm như chó gặm của chính mình tạo ra ,

Khi bình thường ông ta cũng biết đi đánh dậm bắt cua bắt ốc để kiếm tiền uống riệu,nhiều hôm trời nắng chang chang như đổ lửa cả làng trong giấc ngủ chưa thì lão đã vác cái dậm với cái giỏ cua đeo bên hông với cái đầu chọc lốc không mũ không nón ra ngoài đồng rồi,khi người làng bắt đầu đi làm đồng thì lão mới về,

Tắm giặt xong ông ra đầu ngõ ngồi hóng mát, nhìn ông lại bảnh ra ngay ai bảo ông dở đâu?,

Ông ngồi đó như người mất hồn đôi mắt trũng sâu nhìn xa xăm ra cánh đồng,nơi có hai con đường cao tốc chạy qua,có phải ông đang đếm những chiếc ô tô xe máy chạy trên kia không,?

Hay ông nghĩ về đời?,nghĩ về vợ con ông không đối sử tốt với ông trăng?những lúc như thế ông ngồi lặng im không nói gì,

để rồi chiều mát ông lại lững thững cầm cái chai lửa lít đi mua riệu, và rồi lai bắt đâù lại liêng biêng từ đâu đó về ngõ nằm trên thành cống,

có hôm ông kiếm đâu đó được nhiều tiền thì y như rằng ông lại say và mua rất nhiều thứ nào thịt phải hàng đôi ba cân là ít,liêu xiêu đi từ đầu làng về tay xách lách mang , đi bộ mà vẫn như đánh võng ngoài đường ,

 

lão lại rất hay có tinh bắt quàng làm họ,gặp người lạ đi ở ngoài đường lão cũng tự dưng mời về nhà mình mời nước nôi,việc đấy đã làm cho vợ con lão nhiều lúc phải khó chịu,hoặc có người thiên hạ vào làng mà hỏi thăm nhà ai đó thì lão đã nhanh nhảu chó chạy trước cày,chưa cần hỏi thì lão đa chỉ cho tận nhà,hay ngồi lên xe của người đó đến tận nhà cần tìm,

nhà tôi cũng đã phải nhiều lần tiếp vị khách không mời đấy,chẳng là đầu ngõ nhà lão lại gần cổng nhà tôi,mà lão lại thường thì hay ngồi chơi ở đầu ngõ,thành thử mỗi khí có ai đó vào nhà tôi là lão biết luôn ,mà đã biết rồi thì lão theo vô luôn nhà cùng khách,mà đã theo rồi thì lão mồm năm mép bảy,bố tôi chưa nói gì thì lão đã chó chạy trước cày tranh chuyện với khách,nhiều lần làm cho bố mẹ tôi phải khó sử,phải ngượng với khách,cho dù bố mẹ tôi có nhắc nhở nhiều lần ,,

nhưng lão cũng chỉ cười hề hề rồi bỏ về ,

sáng  hôm tôi lấy xe ba bánh đi chơi đến chưa, khi về đến cổng thì xe cũng gần hết điện không leo nổi lên sân,thấy ông ngồi chơi ở đầu ngõ tôi đành phải nhờ ông ru hộ cho lên sân nhà mình,hôm đó trông ông thật buồn ,phờ phạc và tiều tụy,

ai dè cũng tối hôm đó cũng là ngày cuối cùng ông ở lại trần gian lần cuối,.

tối hôm đấy cả nhà ông không thấy ông về cả nhà ông và họ hàng nháo nhác đi tìm,tìm khắp nhà ,người thì cầm đèn pin tìm khắp các hố ga ở khu đô thị mới,người thì ra nhà văn hóa nhờ đọc tin lên tìm ông trên loa chuyền thanh,đến mười giờ đêm họ vẫn không thấy ông chở  về ,liền gọi cho thằng con trai cả nó đang làm ngoài hà nội,hơn hai mươi phút sau nó đã về đến nhà,

về nhà nó chắc cú tìm quanh nhà lại lần nữa ,vẫn không thấy gì,nó liền chèo lên trần bếp nơi có xây cái bể xi măng trên đó, ,mà cái bể đó chỉ cách cửa nhà ăn nhà tôi có bốn đến năm mét,,

nó phát hiện cái lắp bể hơi bị bẹp võng xuống một chút xíu ở góc,nó mở lắp ra cầm đèn pin soi xuống thì ôi thôi cha nó đã chết cứng từ bao giờ trong bể nước  rồi…

thế mà lúc đi tìm lúc trước thằng con út nó cũng chèo lên bể tìm,nó thấy cái lắp bể vẫn gần như nguyên vẹn không có gì ngoài một chút hơi bị bẹp,thế là nó lại bỏ xuống ,tìm nơi khác ,cũng do vội vã tìm cha mà nó đã không nhìn kỹ,

nó đâu biết rằng một nỗ nhỏ bẹp như thế mà cũng đủ để đưa cha nó đã nằm gọn cỏng queo trong đó,

thì ra lúc lần chiều ông chèo lên bể,,định quét cho sạch bể nước dùng.. ông ngồi trên thành ,và đã ngã gục bất tỉnh trên lắp tôn luôn lúc đó!,cái lắp bể bằng tôn đã không đủ sức để …? và nó đã từ từ chút ông xuống một góc của bể nước,rồi nó lại đàn hồi lên gần như cũ ,.để đến khi thằng út con ông chèo lên tìm mà vẫn không thấy gì?

Người ta bảo đó là do cái duyên cái số lên ông mới báo cho thằng con cả nó biết nơi ông nằm ,

quả thực anh con cả nó cũng thương ông hơn ai hết ,lên ông mới cho nó biết

Thì ra mấy ngày chước đang ngồi chơi ở trên thành cống đầu ngõ,tự rưng lão ngã ềnh xuống cống bất tỉnh ,

May mà rãnh cống cũng nông chỉ có bốn mươi phân,lên lão không bị thương gi,may mà lát sau có người đi qua biết đã nhấc ông lên đưa về nhà,

Nhưng thật buồn lão đã không tránh qua khỏi cái số mệnh của trời đã định cho lão..

Mấy ngày sau đám ma của ông . tôi đang ngồi chơi ở cửa sau nhà ăn nhà mình ,

thì thấy anh con trai cả và một ông thầy tu chèo lên đó xem và đặt cái thang làm bằng que lứa và mấy cái phao và mấy cành tre vẫn còn cả lá,, lên bể nơi ông chết đuối ,,

nghe đâu là để cho linh hồn ông chèo lên để vào nhà ..

đến hôm sau thì anh ta thuê người về đập vỡ cái bể  đó luôn và thay vào đó là một cái bồn inoc mới toanh


 
Có 3 bình luận | 160 Lượt xem
Sống cho nhau Aug 25

image

Sống cho nhau

TP - Hầu như các buổi chiều Chủ nhật, trong ngôi nhà hai gian nho nhỏ xinh xinh, nằm giữa khuôn vườn xanh biếc cây trái của chị H. lảnh lót tiếng cười đùa của hai đứa trẻ, một trai, một gái, đứa năm tuổi, đứa ba tuổi. Ai đến nhà chị cũng như hòa chung niềm vui đầm ấm với người mẹ trung tuổi và hai đứa con ngây thơ này.

Nhìn ba mẹ con ríu rít vui vầy chẳng ai dám nghĩ chị và hai đứa trẻ này lại không hề có máu mủ ruột rà. Nhưng lại đúng như vậy.

Mười sáu năm trước đây, khi vừa bước vào tuổi yêu, T. ở Lãm Hậu gặp H. ở Quảng Lâm trong một đợt huyện đoàn thanh niên Kiến Thụy huy động lực lượng đoàn viên đi bồi trúc tuyến đê xung yếu Cầm Cập. Họ quen và thân nhau. Suốt cả năm trời khi đắp đê, lúc làm thủy lợi rồi quy hoạch vùng kinh tế đường 14, họ luôn ở bên nhau.

Yêu thương, quan tâm và chăm sóc giúp đỡ nhau bằng tất cả tình cảm chân thành, sôi nổi của tuổi trẻ. Gia đình hai bên khi biết chuyện đều ủng hộ. Tất cả cùng chăm lo, vun xới cho mối tình trong sáng của đôi trẻ này.

Thành vợ, thành chồng rồi, hai vợ chồng vẫn không rời nhiệm vụ. Họ vẫn tham gia mọi công việc của người đội viện đội xung kích. Mùa hè, cái nóng như thiêu, như đốt toàn độ vẫn thi công trên đê. Họ vừa làm vừa hát hò vui vẻ.

Bỗng H. rời hòn đất đang bê trên tay, ngã nhào khỏi máng. May có bạn bè đỡ, không cô đã lộn xuống chân đê. H. nằm liệt giường hơn một tuần lễ. Khi sức khỏe hồi phục, H. thấy mình vẫn sung sức. Chỉ có điều đã năm, sáu tháng, sau khi ốm, H. thấy mình như đàn ông.

Ba rồi năm năm, H. vẫn là nữ thanh niên khỏe nhất làng. Ở tuổi 26 vợ chồng H. đã có đủ nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt đàng hoàng. Chỉ có điều, cái tiếng “H đực” đã bắt đầu nhỏ to ở miệng những kẻ ngồi lê, mách lẻo.

Khi khám  xét, thử nghiệm biết chắc mình không có quyền làm mẹ, H. nói với T., nhưng T. gạt đi. Nó trục trặc gì ở sức khỏe rồi sẽ hồi phục thôi. Thấy chồng vô tư, H. cũng yên tâm. Nhưng khi sang tuổi 28 - 30, H. không còn thấy hy vọng gì nữa.

Cô tâm tình với chồng: “Em chắc mình không có con rồi”. Rồi ngập ngừng: “Thế này anh ạ, chúng mình chia tay để anh lấy vợ khác. Chứ vợ chồng cưới nhau đã chục năm, bố mẹ đều mong có cháu mà mình như vậy em không thể im lặng được”.

“Không im lặng thì em định rũ tung cái nhà này sao? Từ bỏ tình nghĩa vợ chồng chắc? Ừ, cho dù mình không có con, chuyện ấy có sao. Hai đứa mình sống với nhau. Trên đời này đâu chỉ có một vợ chồng mình... Thôi không bàn chuyện ấy nữa”.

Rồi khi thấy H. buồn, T. thuyết phục H. nhận con nuôi. Nhưng H. không đồng ý. Nếu mình có của, các cháu thiếu nhờ mình cho, em đồng ý, nhưng nuôi con nuôi em không tán thành, vì chúng mình chỉ một em mất quyền làm mẹ, chứ anh phải có con. Đấy không chỉ là tình cảm vợ chồng mà là lẽ đời, là sự mong đợi của cha mẹ nữa kia.

H. thuyết phục chồng, tình cảm chân thành của cô như mưa dầm thấm lâu, từ chỗ T. vùng vằng đến nghe rồi lặng im không nói gì. Trong khi ấy H. bắt thân với X. người làng bên, kém cô hai tuổi.

H. nói chuyện với T., anh cứ nghĩ lấy X. để sinh con chứ vợ chồng sẽ không có gì đổi thay. Đón X về, H. nói với T. “Chắc mẹ giận không đến, em về bên nhà xem thế nào”.

H. mang đơn trình bày ý nguyện của mình trước chính quyền địa phương. Hiểu tình cảm, lòng nhân ái, cách xử sự rất tình người và đúng luật pháp của H., địa phương đồng ý với đề nghị của chị.

H. quay lại nhà, mời bố mẹ và T., X. thưa chuyện – đây là nguyện vọng của con và đáp ứng điều mong mỏi của gia đình. Còn con đã làm hết trách nhiệm của con dâu trong gia đình, nhưng chưa làm hết bổn phận một người vợ. Con đưa X. về thay con đảm nhận trách nhiệm này. Con xin phép bố mẹ, em từ tạ anh T. Chúng mình không còn là vợ chồng nhưng nghĩa tình em không quên.

T. choáng váng nhưng anh không thể làm khác, trước tình cảm chân thành nhưng thẳng thắn của H. Anh đứng lặng như trời trồng nhìn theo bóng H. khuất dần sau lũy tre làng.

T. – X. có một rồi hai con. Hai vợ chồng thường đưa con đến chơi với H., giúp H. làm tất cả mọi công việc như việc của gia đình thứ hai của họ. Họ thân quý nhau, tình cảm đúng đắn, chân thành của bộ ba này như một tấm gương trong.

Dù hạnh phúc đã trao đi, nhưng tình cảm đâu có hết. Nếu như ta biết sống cho nhau, cho mình thì hạnh phúc ấy còn đẹp hơn và mãi mãi được trân trọng. 

 
Có 0 bình luận | 100 Lượt xem
Hội Nhồi – phường võ cường – thành phố bác ninh Aug 15

                        Hội Nhồi – phường võ cường – thành phố bác ninh

http://clip.vn/mytv/trongtoankl

http://vn.myblog.yahoo.com/trongtoankl/

Làng Nhồi tức làng Hoà Đình, nằm hai bên quốc lộ 1A, sát thị xã Bắc Ninh về phía Nam. Hội chùa của làng vào ngày 7 tháng giêng âm lịch.  Làng Nhồi không có nghè mà chỉ có đình. Thành Hoàng gọi là Bà Đống "trú ngụ" tại gò đất ngoài đồng, khoảng đất này ngày xưa thuộc làng Nhồị,nay thuộc làng Đống Cao, Vì vậy mỗi lần mở hội làng phải tổ chức lễ rước thành hoàng từ ngoài đồng về chùa tan hội lại rước ra. Lễ rước tiến hành như sau:Tối ngày mùng 6 âm lịch, các cô gái chưa chồng trong làng ngủ bọn. Đến giờ tý nửa đêm chuông chùa thỉnh các cô từng tốp, từng tốp từ nhiều phía lặng lẽ đi đến gò đất nơi Thành Hoàng trú ngụ. Một vị thứ chỉ đã đến đó trước khấn vái, lúc này họ mới ngả kiệu ra lắp, lắp xong mời bà đống lên ngồi, rồi rước về.Đi đầu đám rước là hai cô khiêng một cái trống cái, một cô cầm dùi vừa đi vừa đánh theo nhịp hai, ba. Theo sau trống là hai cô khiêng chiêng và đánh theo nhịp trống. Sau đó là bốn cô khiêng kiệu, kiệu làm bằng tre, trên kiệu buộc một chiếc ghế mây có tay vịn, xung quanh ghế có buộc lá cây và gài hoa. đòn khiêng làm bằng tre dán giấy ngũ sắc. Khi chiêng chống nổi lên thì trai làng Đống chay ra giằng kiệu. Bên Đống Cao cũng đã chuẩn bị một số đòn lao, hai bên giằng co có vẻ kịch liệt rồi đem đòn lao ném nhau . Bên này ném thì bên kia bắt. Lễ tiết đấy gọi là "Lao đòn đám" đòn đám trúng vào ai tuy có bị đau nhưng ai đó cũng tin rằng năm đó mình sẽ có phúc và gặp nhiều may mắn. Các cô làng Nhồi vừa tranh nhau với trai làng Đống vừa bảo vệ cho người khiêng kiệu. Khi đoàn kiệu ra khỏi phạm vi làng Đống, thì cuộc giao tranh kết thúc.Về tới chùa thì trời vừa dạng sáng, người ta làm lễ đưa bà Đống vào chỗ đã bố trí sẵn trong chùa. Tất cả các cô quỳ dưới phật đài. Giữa lúc đó có tiếng chiêng trống vang rộn (ngày xưa có đốt pháo).Rứt tiếng chiêng một sư cụ trong chùa bước lên phía trước gõ mõ tụng kinh. vài phút sau các cô đến lễ bà Đống. Lúc này người xem giãn ra, Thềm chùa được trải chiếu, và từng bọn quan họ ngồi hát với nhau xưng tụng công đức Vua Bà và Phật.Lúc đó các cụ ở làng lân cận khăn áo chỉnh tề đem hương, hoa đến lễ phật.Các cụ làng Nhồi chia ra thành năm, sáu nhóm ra tận cửa chùa để tiếp khách thập phương. Bên khách bưng cơi trầu và toàn bộ lễ vật cung kính tiến lên. Cụ này bắt đầu cất giọng cả toán khách cùng hát. Đối đáp một lúc giữa chủ nhà và khách bằng mấy câu, chủ mới đỡ lễ đỡ nón dẫn khách vào trong chùa lễ phật. Lễ phật xong lại ra hát.Xẩm tối các cô gái vào lễ phật lần hai và lúc này mới chính thức vào hộị

.. image

Có 1 bình luận | 197 Lượt xem