Khả Lễ thuộc phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, vốn là một làng cổ nằm quanh núi Cao và núi Thần, đầy ắp những truyền thuyết về lịch sử dân tộc và đã được kết tinh ở quần thể di tích cổ kính thâm nghiêm, trong đó đền và đình là nơi thờ phụng các danh tướng thời Trần.
Quần thể di tích đền, đình Khả Lễ nằm ở giữa làng có cảnh quan đẹp, vốn được khởi dựng từ lâu đời, nhưng bị phá trong tiêu thổ kháng chiến chống Pháp. Những năm gần đây, nhân dân địa phương đã khôi phục đền, đình với quy mô lớn mang dáng vẻ truyền thống. Quần thể di tích này còn bảo tồn được những cổ vật quý giá như: thần phả, sắc phong, ngai bài vị thờ, chuông đồng và một số đồ thờ tự. Song giá trị nổi bật của quần thể di tích đền, đình Khả Lễ chính là người được thờ.
Căn cứ vào thần tích, sắc phong của đền và đình Khả Lễ có thể tóm tắt về người được thờ ở đây như sau: Xưa ở xứ Thanh Hóa, có gia đình họ Phùng chồng tên húy là Cẩn và vợ họ Lê tên húy là Hằng. Vợ chồng ông bà ăn ở hiền lành nhân hậu, luôn làm việc thiện, cứu giúp người nghèo khó; nhưng đã nhiều tuổi mà vẫn chưa có con. Một buổi, bà lên núi Bằng Trình lấy củi, thấy có ngôi chùa vào nghỉ và bỗng mơ màng thấy có một con rắn vàng lớn quấn quanh mình; khi tỉnh dậy thấy bàng hoàng cảm động lạ thường và sau đó thì có mang. Vào ngày 6 tháng giêng năm Quý Tỵ, bà sinh ra 3 người con trai khôi ngô tuấn tú lạ thường. Ông bà đặt tên các con là: người thứ nhất Chính Trực, thứ hai Nghiêm Trị và thứ ba Quảng Pháp và hết lòng nuôi các con ăn học. Các ông đều là người thông minh hiếu học, tinh thông sử sách, giỏi võ nghệ.
Bấy giờ, quân Nguyên - Mông sang xâm lược nước ta, vua Trần ban chiếu khắp nơi tìm người tài giỏi ra cứu nước. Các ông đều tham gia ứng thí và thể hiện văn võ hơn người. Nhà vua cho rằng các ông là người xuất chúng, liền phong cho ông thứ nhất là Tả tướng quân, ông thứ hai và thứ ba làm Hữu tướng quân. Nghe tin quân giặc đang từ cửa biển Hội Thống kéo vào và vô cùng lo lắng, liền triệu Trần Quốc Công (tức Trần Quốc Tuấn) đến bàn kế đánh giặc. Trần Quốc Công liền chọn các tướng giỏi, trong đó có ba ông Chính Trực, Nghiêm Trị, Quảng Pháp cầm quân đi đánh giặc.
Ba ông cầm quân đến huyện Tiên Du đạo Kinh Bắc, khi đến trại Khả Lễ thấy thế đất ở đây rồng chầu hổ phục, liền truyền cho binh sĩ dựng đồn sở để ứng phó với giặc. Thấy vậy, các phụ lão ở bản trại rất kính sợ, xin được làm thần tử. Các ông đồng ý cho chọn một số trai tráng của bản trại làm nội thần.
Các ông đã nhận lệnh của Trần Quốc Công từ đạo Kinh Bắc tiến quân đến vùng cửa sông Bạch Đằng để cùng hợp quân và đại thắng quân giặc. Sau chiến thắng này, các ông được nhà vua phong thưởng và lại đem quân về đồn sở ở trại Khả Lễ. Một hôm, các ông bỗng không bệnh mà hóa, dân bản trại kinh sợ làm biểu tấu lên triều đình. Nhà vua sai người về bản trại làm lễ và phong 3 vị làm Thần, phong cho: ông thứ nhất là “Chính trực tế thế hộ quốc linh cảm diệu thông hiển ứng đại vương”, ông thứ hai là “Nghiêm Trị tế thế hộ quốc linh cảm diệu thông hiển ứng đại vương”, ông thứ ba là “Quảng Pháp tế thế hộ quốc linh cảm diệu thông hiển ứng đại vương” và lệnh cho dân địa phương phụng thờ mãi mãi.
Theo tục lệ, hàng năm đình làng Khả Lễ được mở hội vào mồng 6 tháng giêng. Ngay từ mồng 4, đình được mở cửa để bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt. Ngày mồng 5, làng tổ chức rước các Thánh từ các đền và nghè tập trung về đình để tế lễ; đồng thời tổ chức đón các làng chạ là Bồ Sơn và Bái Uyên. Trong những ngày lễ hội, phần tế Thánh có tục “cỗ ngọc” và tục đọc mục lục. Sau phần tế là phần hội với nhiều tục trò dân gian vui chơi giải trí như: đu, vật, chọi gà, cờ tướng, đặc biệt là hát quan họ. Khả Lễ vốn là một làng quan họ gốc nổi tiếng, vào hội các liền anh, liền chị của các làng quan họ trong vùng đến tham dự rất đông.
Quần thể di tích đền đình Khả Lễ với truyền thuyết, tín ngưỡng về người được thờ, không những phản ánh bề dày lịch sử của quê hương, trong đó có dấu ấn thời Trần với cuộc kháng chiến vĩ đại chống giặc Nguyên - Mông, mà còn góp phần soi sáng trang sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.








